Phòng chống bệnh lở mồm long móng cho vật nuôi

Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là bệnh truyền nhiễm cấp tính, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng; theo Tổ chức Thú y thế giới (OIE), đây là bệnh dịch xếp đầu tiên ở bảng A. Bệnh đã xảy ra trên đàn vật nuôi ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn và huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đến ngày 4/3/2015 chưa qua 21 ngày. Để hạn chế dịch bệnh LMLM xảy ra trên các đàn vật nuôi, người nuôi cần nắm vững một số kiến thức sau:

 lở mồm long móng

1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh LMLM do vi rút gây nên. Ở Việt Nam đã phát hiện chủ yếu 3 type gây bệnh là A, O và Asia1. Động vật mắc bệnh LMLM là các loài động vật có móng guốc chẵn như: trâu, bò, lợn, dê, cừu, hươu,…

2. Đường truyền lây

Vi rút có trong nước bọt, phân, nước tiểu, tinh dịch, sữa, dịch trong các mụn mủ của con bệnh hoặc ở trong không khí, dụng cụ môi trường…;

Lây trực tiếp do nhốt chung con bệnh với con khỏe;

Lây gián tiếp qua người chăm sóc, phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi, ở các bãi chăn thả, chất thải chăn nuôi, môi trường có mầm bệnh;

Lợn sau khi khỏi bệnh vẫn bài thải vi rút trong 1-2 tháng, trâu bò có thể thải vi rút trong 3-6 tháng, thậm chí mang vi rút hàng năm, vì vậy trâu bò có thể lây bệnh do chăn thả cùng khu vực;

Bệnh lây lan mạnh, có thể từ nước này sang nước khác theo đường vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ở dạng tươi sống (thịt cấp đông, da, xương, sừng, móng, sữa, lông… ).

2. Triệu chứng của bệnh

– Ở trâu, bò: Thời gian nung bệnh từ 2 – 5 ngày, có thể đến 21 ngày. Trâu, bò mắc bệnh, trong 2, 3 ngày đầu sốt cao trên 400C, kém ăn hoặc bỏ ăn, miệng chảy nhiều dãi và bọt trắng như bọt xà phòng; viêm dạng mụn nước ở lợi, lưỡi, vành mũi, vành móng, kẽ móng, đầu vú. Khi mụn nước vỡ ra làm lở loét mồm và dễ làm long móng.

 Bò mắc bệnh LMLM: nhiều dãi, bọt trắng,nốt loét ở miệng, lưỡi và vú

– Ở lợn: Thời gian nung bệnh 2 – 4 ngày, có thể đến 21 ngày. Lợn mắc bệnh, sốt cao liên tục  40 – 41,50C; lợn chảy dãi, xuất hiện những mụn nước ở vùng quanh móng chân, bàn chân, kẽ móng, các mụn này phát triển thành mảng lớn, vỡ ra, tạo vết loét. Lợn bị bệnh ngại vận động, hay nằm, ăn ít; lợn bị bệnh nặng, có thể di chuyển bằng đầu gối, gây sây sát ở đầu gối. Ở lợn nái, mụn có thể mọc ở núm vú, gây đau nên lợn mẹ không cho lợn con bú, mụn vỡ tạo vết loét có thể gây viêm vú. Lợn nái mang thai sẽ bị sảy thai.

 Lợn mắc bệnh LMLM, nhiều vết loét ở chân gây long móng

– Dê, cừu: Thời gian nung bệnh 2 – 7 ngày, dê, cừu mắc bệnh, sốt cao 41,50C trong 2 – 4 ngày, xuất hiện những mụn nước dầy đặc xung quanh miệng, sau đó đến chân, vú; mụn nước vỡ ra làm lở loét miệng nên dê, cừu đau miệng khó ăn.

– Ở thể huỷ diệt, triệu chứng xuất hiện ở đư­ờng tiêu hoá hoặc viêm phổi, gia súc chết nhanh trong vòng 12 – 20 giờ nên chưa có triệu chứng nào khác.

3. Bệnh tích

Bệnh tích điển hình của bệnh lở mồm long móng là các mụn nước và vết loét ở miệng, móng, vú. Ở thể huỷ diệt có những biến đổi ở cơ vân, cơ tim, có thể gây viêm gan, thận và biến đổi ở lách.

4. Chẩn đoán bệnh

Dựa vào các triệu chứng, bệnh tích điển hình của bệnh: gia súc sốt cao, có các mụn nước và vết loét trên miệng, chân, móng, vú…

Xác định căn nguyên gây bệnh bằng ph­ương pháp ELISA kháng nguyên hoặc phư­ơng pháp PCR.

5. Phòng, chống bệnh

5.1. Phòng bệnh

Tăng cường công tác tuyên truyền để mọi người hiểu biết về nguyên nhân, triệu chứng, bệnh tích, tác hại và cách phòng, chống bệnh LMLM.

Thực hiện tốt vệ sinh thú y: giữ gìn chuồng trại luôn khô ráo, sạch sẽ, định kỳ phun sát trùng. Con giống đưa vào chăn nuôi phải khoẻ mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, đã được tiêm phòng LMLM; trước khi nhập đàn phải được nuôi cách ly 21 ngày. Thức ăn, nước uống dùng trong chăn nuôi phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y. Người vào thăm quan, nhân viên thú y,… trước khi ra, vào khu vực chăn nuôi phải phải được vệ sinh, khử trùng và trang bị bảo hộ.

Kiểm dịch nghiêm ngặt khi xuất nhập gia súc giữa các vùng. Thực hiện các quy chế phòng chống bệnh lở mồm long móng đúng theo Pháp lệnh Thú y: Cách ly triệt để gia súc ốm, không chăn thả tập trung; thường xuyên thực hiện vệ sinh chuồng trại, bãi chăn thả, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển… thực hiện tiêu độc, khử trùng khu vực có gia súc nghi mắc bệnh, bị ốm, chết.

Phòng bệnh bằng vắc-xin: đặc biệt quan tâm tiêm phòng bệnh cho gia súc ở những vùng đã từng xảy ra dịch LMLM, lựa chọn vắc-xin theo dịch tễ từng vùng (theo hướng dẫn của cán bộ thú y). Tiêm phòng vắc-xin LMLM cho trâu bò, lợn, dê lần 1 cho gia súc từ 2 tuần tuổi trở lên (tùy dịch tễ từng vùng mà chọn ngày tiêm cho phù hợp), sau 28 ngày tiêm nhắc lại lần 2, sau đó, cứ 6 tháng tiêm nhắc lại 1 lần.

 5.2. Chống dịch

Người chăn nuôi phải thường xuyên theo dõi quan sát đàn vật nuôi, khi thấy gia súc có hiện tượng ốm, sốt, bỏ ăn, chảy nước dãi, có bọt có mụn nước ở vùng miệng, quanh móng chân hoặc chết bất thường phải tiến hành cách ly ngay những con ốm ra khu vực riêng; không được chăn thả, không bán chạy, không giết mổ, vứt xác gia súc chết và chất thải của chúng ra môi trường.

Báo ngay cho thú y hoặc chính quyền địa phương để được hướng dẫn biện pháp xử lý thích hợp; Thực hiện tiêu hủy những con chết, những con ốm nặng không có khả năng hồi phục theo đúng quy trình kỹ thuật có sự giám sát của thú y, không làm phát tán mầm bệnh ra môi trường.

Thực hiện tốt công tác vệ sinh, khử trùng, tiêu độc: đối với hộ có dịch phun hóa chất ngày 1 lần, xã có dịch 2 ngày 1 lần, thực hiện liên tục trong suốt thời gian có dịch;

Tiêm phòng vắc-xin bao vây ổ dịch, tiêm từ ngoài vào trong, người tiêm phòng phải thực hiện tốt an toàn sinh học không làn lây lan dịch;

Bệnh LMLM chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, biện pháp chủ yếu là nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho con vật bằng cách tăng cường công tác chăm sóc nuôi dưỡng như: tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, cho ăn thức ăn mềm dễ tiêu, bổ sung vitamin, điện giải, các thuốc trợ sức, trợ lực; vệ sinh môi trường, luôn giữ nền chuồng khô ráo, sạch sẽ. Xử lý các vết loét bằng cách bôi các loại thuốc sát trùng như xanh Mê-ty-len, cồn iod hoặc nước chanh, khế, tiêm kháng sinh để chống bội nhiễm;

Theo quy định hiện hành, nếu gia súc bị bệnh lở mồm long móng bắt buộc phải tiêu hủy sẽ được Nhà nước hỗ trợ kinh phí khoảng 70% giá trị của gia súc thương phẩm tại thời điểm xảy ra dịch.

Để hạn chế dịch bệnh xảy ra, đảm bảo an toàn cho vật nuôi, đề nghị các hộ chăn nuôi nắm vững và áp dụng tốt các biện pháp nêu trên nhằm hạn chế thiệt hại do dịch bệnh gây ra.

Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho vật nuôi vụ xuân, hè

Kiểm tra, nâng cấp chuồng trại chăn nuôi

Chuồng nuôi phải xây dựng ở nơi cao ráo, dễ thoát nước, thông thoáng về mùa hè, ấm áp về mùa đông đối với chuồng nuôi hở. Tường và nền chuồng nên phẳng, làm bằng vật liệu dễ vệ sinh, sát trùng. Khu vực chăn nuôi phải tách riêng với các khu vực khác như kho thức ăn, kho đựng dụng cụ, vật tư chăn nuôi…

Có hàng rào hoặc tường bao chắn xung quanh khu vực chăn nuôi cũng như có cổng ra vào, hố sát trùng trước chuồng nuôi.

* Công tác chuẩn bị chăn nuôi

Chuẩn bị chuồng nuôi phù hợp với đối tượng vật nuôi: loại, giống, lứa tuổi, số lượng…

Trước khi nuôi phải vệ sinh toàn bộ khu vực chăn nuôi, phun thuốc sát trùng, quét vôi. Phải có thời gian trống chuồng ít nhất là 2 tuần (nuôi thịt), 4 tuần (nuôi sinh sản), sau khi đã dọn rửa phun khử trùng và quét vôi mới đưa vật nuôi vào nuôi.

Các dụng cụ chăn nuôi như máng ăn, máng uống… phải được rửa sạch, phun thuốc sát trùng và phơi nắng cho khô.

Vệ sinh cỏ, rác, khơi thông cống rãnh và rắc vôi bột xung quanh chuồng nuôi.

* Vệ sinh thú y trong quá trình chăn nuôi

Đảm bảo vệ sinh thức ăn, nước uống.

Vệ sinh chuồng trại và môi trường xung quanh: Chuồng nuôi luôn đảm bảo sạch sẽ, khô ráo; Định kỳ phun thuốc sát trùng trong và xung quanh chuồng nuôi; Thu gom phân, rác để xử lý đúng kỹ thuật.

Vệ sinh chuồng nuôi lợn
 

* Kiểm tra sức khoẻ vật nuôi

Kiểm tra vật nuôi vào đầu giờ sáng hàng ngày, quan sát dáng đi, đứng, tiếng kêu, mắt, mũi, trạng thái phân. Kiểm tra tình trạng ăn uống của vật nuôi. Cách ly kịp thời những con có biểu hiện khác thường, chẩn đoán và điều trị nếu cần thiết

Tiêm sắt cho lợn
Đảm bảo kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng như: mật độ; ánh sáng trong, ngoài chuồng nuôi; chế độ cho ăn, uống…

Thực hiện nghiêm túc lịch phòng vắc-xin cho vật nuôi.

Phải có sổ ghi chép đầy đủ, chính xác về tình trạng sức khỏe, các loại thuốc và vắc-xin sử dụng, thời gian, ngày, giờ cho uống hoặc tiêm vắc-xin.

* Xử lý vật nuôi ốm, chết

Sớm cách ly vật nuôi ốm, chết ra khỏi đàn, không được bán hoặc phát tán.

Phải có khu mổ khám và đốt hoặc chôn xác vật nuôi. Khi chôn phải chôn sâu, rắc vôi bột. Thường xuyên phun thuốc sát trùng khu vực này.

Không được sử dụng lại thức ăn thừa của những vật nuôi bị bệnh cho vật nuôi khác.

Trong quá trình thực hiện công việc, người chăn nuôi đặc biệt chú ý mặc quần áo bảo hộ, đeo khẩu trang, đi ủng, đeo kính bảo hộ, đội mũ, đi găng tay, sau khi thực hiện công việc xong phải tắm rửa và sát trùng tay, chân, quần áo và các vật dụng có liên quan cẩn thận.

* Vận chuyển, giết mổ vật nuôi

Hiện nay chỉ những vật nuôi có đủ các điều kiện sau mới được vận chuyển, giết mổ:

+ Những vật nuôi khoẻ mạnh và có nguồn gốc rõ ràng;

+ Có sự kiểm dịch của cơ quan thú y.

Vận chuyển vật nuôi phải dùng xe chuyên dụng, không phát tán chất thải vật nuôi trong quá trình vận chuyển.

Giết mổ ở nơi quy định và phải có nơi xử lý chất thải, vệ sinh và phun sát trùng nơi giết mổ ngay sau khi giết mổ.

* Đặc biệt quan tâm đến những nơi đã từng xảy ra dịch bệnh trên vật nuôi và nơi có nguy cơ cao như khu vực gần chợ, gần khu giết mổ, khu tập trung, xử lý rác thải…

Be the first to comment

Gửi phản hồi