Nuôi Tôm Hùm – Cách Làm Giàu nhờ nuôi tôm hùm

Nuôi Tôm Hùm – Cách Làm Giàu nhờ nuôi tôm hùm

Kỹ thuật nuôi tôm hùm ở biển

 tom-hum-ha-long

Nghề nuôi tôm hùm trong lồng phát triển mạnh ở nhiều tỉnh ven biển Trung Bộ. Ngư dân vùng này đã có nhiều kinh nghiệm quý. Lồng nuôi tôm được làm khung bằng sắt (phi 16), kích thước lồng 3x3x1,4 m, chung quanh bao bằng lưới sợi ni-lông (mắt lưới cỡ 2-2,5 cm).

Khung sắt được sơn dầu và quấn nhựa chung quanh, tăng độ bền và tránh sực bám của hầu. Nơi đặt lồng nuôi là vùng nước sạch và lưu thông, đáy cát hoặc có rặng san hô. Ðộ sâu khi nước chiều cạn ít nhất là 3m, ít tàu, thuyền qua lại.

Tôm giống thả nuôi, cỡ 1,5-2,5 g/con với mật độ 20-25 con/m2/lồng sau 2 tháng nuôi chuyển sang mật độ 10-15 con/m2/lồng, sau 1,5 tháng, lại san tiếp sang lồng, giữ mật độ 5-6 con/m2/lồng và nuôi đến khi tôm lớn.

Mỗi lần chuyển sang lồng, dùng vợt nhẹ nhàng. Hàng ngày cho tôm ăn hai lần. Thức ăn là tôm nhỏ, cá, cua vụn… tươi sạch, không bị thối. Cho tôm ăn vào buổi sáng hoặc chiều tối. Lượng thức ăn 5-10% trọng lượng tôm thả nuôi. Chú ý kiểm tra nước hàng ngày, phòng nước bị nhiễm bẩn và dịch hại của tôm, kiểm tra sự an toàn của lồng. Trong quá trình nuôi, chú ý giữ yên tĩnh, không đặt lồng nơi cửa sông, có nước thải bẩn.

KỸ THUẬT NUÔI TÔM HÙM LỒNG

nuôi tôm hùm

(Panulirus ornatus)

A/ MỞ ÐẦU

Tôm hùm là tên gọi chung của một nhóm các loài giáp xác có kích thước lớn thuộc họ Palinuridae. Hiện nay, tôm hùm là một loại hải đặc sản đã và đang được chú trọng trong nuôi trồng Thủy sản, thịt của chúng thơm ngon, giàu đạm, được nhiều người ưa thích là đối tượng có giá trị xuất khẩu cao.

Ở Việt Nam, tôm hùm phân bố từ Quảng Bình đến Bình Thuận đặc biệt phân bố nhiều ở các tỉnh như : Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận.

Trong giống tôm hùm thì loài tôm hùm bông (hùm sao) có tên khoa học là Panulirus ornatus có kích thước tương đối lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh và có thể nuôi được mật độ cao, đã và đang được nuôi nhiều ở các tỉnh miền Trung mà đặc biệt là Khánh Hòa mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Theo thống kê năm 2001 tỉnh Phú Yên có 11.000 lồng tập trung chủ yếu tại các xã Xuân Phương, Xuân Thịnh, Xuân Cảnh, Xuân Thọ và Thị trấn Sông Cầu huyện Sông Cầu, tỉnh Khánh Hòa có khoảng 8000 lồng tập trung chủ yếu ở huyện Vạn Ninh và Cam Ranh. Ở tỉnh ta tính đến cuối năm 2002 có 508 lồng nuôi tôm hùm lồng tập trung chủ yếu tại Vĩnh Hy và Bình Tiên. Nghề nuôi tôm hùm thương phẩm phát triển đã góp phần tạo công ăn việc làm và tạo thu nhập đáng kể cho một bộ phân dân cư ven biển. Tuy nhiên hiện nay nghề nuôi tôm hùm của cả nước nói chung và của tỉnh ta nói riêng đang gặp phải một số khó khăn đó là tình hình dịch bệnh và con giống ngày càng khan hiếm.

Ðể góp phần giúp người nuôi tôm hùm có được những kiến thức về kỹ thuật nuôi, phương pháp phòng trị bệnh chúng tôi tiến hành biên soạn tài liệu: ” Kỹ thuật nuôi và phương pháp phòng trị bệnh tôm hùm “.

Vì khả năng có hạn, tài liệu chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các bà con nuôi tôm cùng bạn đọc.

B/ MỘT SỐ ÐẶC ÐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM HÙM BÔNG.

Tôm hùm có nhiều loài, ở vùng biển Ấn Ðộ – Tây Thái Bình Dương có tất cả 11 loài, trong đó vùng biển từ Phú Yên đến Bình Thuận có 7 loài : Tôm hùm bông (hùmsao), tôm hùm đá (hùm xanh), tôm hùm đỏ, tôm hùm ma, tôm hùm vằn, tôm hùm mốc và tôm hùm sỏi. Ở Việt Nam có 3 loài chiếm sản lượng đáng kể là : Tôm hùm bông, tôm hùm đá (hùm xanh) và tôm hùm đỏ, trong đó tôm hùm bông là loài có kích thước và số lượng tương đối lớn. Hệ thống phân loại của tôm hùm bông như sau:

Ngành: Arthropoda

Lớp: Crustacea

Bộ: Decapoda

Họ: Palinuridae

Giống: Panulirus

Loài: P. ornatus (Tôm hùm bông, hùm sao).

2/ Ðặc điểm phân bố.

Trên thế giới tôm hùm phân bố chủ yếu ở các vùng biển Nhiệt đới đến Á nhiệt đới như: Úc, Ðài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia…

Ở Việt Nam, tôm hùm phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, đặc biệt phân bố nhiều ở các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận.

Phân bố theo độ sâu: Tùy vào giai đoạn phát triển và tùy vào từng loài mà chúng phân bố theo độ sâu khác nhau. Ở giai đoạn trưởng thành tôm hùm bông thường phân bố ở độ sâu từ 20m trở lên, ở giai đoạn ấu trùng và con non chúng thường phân bố ở các bãi rạn, đá san hô ở độ sâu từ 2 – 10m nước.

Tôm hùm thường sống ở các bãi rạng đá, rạng san hô nơi có nhiều hang hốc, khe rãnh ven biển. Chúng có tập tính sống quần tụ chủ yếu là ở tầng đáy với chất đáy sạch, không bùn. Ban ngày trú ẩn trong các hang đá ít hoạt động, ban đêm hoạt động tích cực tìm mồi.

Tôm hùm sống thích hợp ở các vùng biển có độ mặn từ 30 – 36 phần ngàn, nhiệt độ từ 25 – 32 độ C.

3/ Ðặc điểm dinh dưỡng.

Tôm hùm là loại động vật ăn tạp, trong tự nhiên chúng ăn chủ yếu là các loại động vật như: Cá, tôm, cua ghẹ, cầu gai, giáp xác nhỏ, nhuyễn thể…ngoài ra còn ăn các loại thực vật như rong rêu., chúng thường có tập tính bắt mồi tích cực vào ban đêm và tờ mờ sáng. Tuỳ vào giai đoạn phát triển mà nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, tôm càng nhỏ thì nhu cầu dinh dưỡng càng cao, ở giai đoạn trước lột xác 2-4 ngày tôm ăn rất mạnh, giai đoạn lột xác tôm sẽ ăn chậm lại.

4/ Ðặc điểm sinh trưởng.

Tôm hùm cũng như nhiều giáp xác khác sinh trưởng thông qua quá trình lột xác. Ở giai đoạn tôm còn nhỏ chu kỳ lột xác ngắn, tôm càng lớn chu kì lột xác càng dài, sau mỗi lần lột xác thì kích thước và khối lượng của tôm tăng lên rất nhiều. Nhìn chung thì tôm hùm có chu kỳ lột xác dài hơn so với các loài giáp xác khác, do vậy tốc độ tăng tưởng của chúng tương đối chậm.

5/ Ðặc điểm sinh sản.

Tôm hùm P. ornatus sinh sản rải rác quanh năm, nhưng mùa vụ sinh sản chính từ tháng 8 đến tháng 9 hàng năm.

Sức sinh sản của tôm hùm tương đối lớn và chúng có thể đẻ nhiều lần trong một năm(thường là 2 lần/năm) . Tôm hùm có kích thước vỏ đầu ngực từ 90 -99 mm đã bắt đầu tham gia sinh sản. Tôm hùm khi đẻ trứng được giữ ở các chân bơi sau một thời gian trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng này trải qua một loạt các quá trình biến thái để trở thành tôm hùm con có hình dạng giống tôm trưởng thành. Từ lúc trứng nở đến giai đoạn “tôm trắng” kéo dài khoảng 10 -12 tháng.

C/ KỸ THUẬT NUÔI TÔM HÙM LỒNG.

1/ Chọn địa điểm đặt lồng nuôi.

Chọn địa điểm đặt lồng nuôi tôm hùm là khâu đầu tiên không kém phần quan trọng. Ðịa điểm chọn đặt lồng nuôi phải đáp ứng các yêu cầu sau:

– Nơi có độ mặn cao, tương đối ổn định nằm trong khoảng từ 30 – 36 phần ngàn, ít bị ảnh bỡi lũ, lụt, những vùng biển có nhiệt độ từ 24 -32 độ C tốt nhất là từ 26-30 độ C.

– Có nguồn nước trong sạch, ít bị ảnh hưởng bởi chất thải công nghiệp, nông nghiệp và đô thị.

– Là nơi kín gió, có độ sâu phù hợp cho việc xây dựng và quản lí lồng nuôi, mức nước tối thiểu khi triều xuống thấp nhất phải đạt 2m, chất đáy là cát; cát bùn; hoặc chất đáy cát, cát bùn có lẫn đá san hô nhỏ, vỏ động vật thân mềm.

– Gần nguồn giống, thức ăn và thuận tiện đường giao thông.

2/ Thiết kế xây dựng lồng nuôi.

Tùy vào điều kiện từng vùng biển mà có thể thiết kế các kiểu lồng nuôi khác nhau. Hiện nay có 2 kiểu lồng nuôi phổ biến: kiểu lồng hở và kiểu lồng kín.

a/ Kiểu lồng hở:

Là loại lồng được cố định bỡi các cọc gỗ găm xuống đất.

* Nguyên vật liệu và cách xây dựng

– Kích thước lồng nuôi phù hợp là: 4 x 4(m); 3 x 4(m) và 4 x 5(m), chiều cao cọc làm lồng phụ thuộc vào độ sâu tại nơi đặt lồng, tốt nhất nên đặt tại nơi có độ sâu 2 – 5m (lúc thủy triều thấp nhất).

– Nguyên vật liệu và cách làm.

+ Cọc gỗ: có thể dùng gỗ tròn f =15-20 cm hoặc gỗ xẻ (gỗ 5 x 10 cm), chiều dài cọc gỗ phụ thuộc vào độ sâu nơi đặt lồng ( cọc gỗ phải có chiều dài cao hơn độ sâu cao nhất khi triều cường tại nơi đặt lồng khoảng 0,5m). Cọc được vót nhọn một đầu và được cắm chặt xuống đất, khoảng cách giữa 2 cọc từ 1,5 – 2m.

+ Nẹp ngang thường dùng gỗ tròn có f = 12 -15 cm hoặc dùng gỗ xẻ (gỗ 4 x 6 cm), nẹp cách nẹp 1,5 đến 2m.

+ Sắt làm khung lồng: dùng sắt tròn (sắt rằn) có f = 18 -20 mm được làm thành các khung hình chữ nhật, khoảng cách giữa 2 thanh sắt từ 1 -1,2 m, chiều cao (rộng) của khung sắt làm thân lồng cao từ 1 -2m, lưới lồng được bệnh trực tiếp vào các khung sắt sau đó lắp ghép lại và được cố định bỡi khung cọc gỗ.

+ Lưới lồng: Hiện nay, phổ biến là làm lồng theo kiểu lồng 1 lớp hoặc 2 lớp lưới lồng ghép sát vào nhau. Vật liệu bằng lưới nhợ hoặc bằng lưới PE, kích thước mắt lưới 2a = 25 -35mm (tùy theo cỡ giống thả nuôi), đối với tấm lưới đáy còn làm thêm một lớp lưới ruồi nhằm đảm bảo thức ăn không bị lọt ra ngoài khi cho ăn. Ngoài ra để đảm bảo an toàn ta cần gia cố thêm một lớp lưới cước (cước 150 -180), kích thước mắt lưới 2a = 35 – 40mm tại những phần có làm khung sắt. Những lồng sử dụng để ương tôm hùm giống thì kích thước mắt lưới nhỏ hơn sao cho đảm bảo tôm không chui ra được ( 2a < 5mm).

+ Mặt trên của lồng phải có nắp đậy bằng lưới tránh thất thoát tôm do bắt trộm hay do triều khi triều cao ngập lồng nuôi. Trong những ngày nắng nóng, lồng nuôi xây dựng ở những vùng nước nông phải tiến hành che mát cho tôm trên mặt lồng bằng các vật liệu như lá dừa, cót,. hoặc dùng nắp lồng bằng lưới ruồi để tránh tôm hoạt động quá nhiều hay tôm bị đóng rong.

b/ Kiểu lồng kín: (lồng di động).

Loại lồng này thích hợp ở những vùng nhiều sóng gió, độ sâu cao.

– Kích thước lồng kín thường nhỏ hơn lồng hở để thuận tiện cho việc di chuyển.

– Kích thước lồng phù hợp theo: dài x rộng x cao tương ứng là: 3 x2x2 (m) hoặc 3 x3 x2 (m), được thiết kế giống như một hình hộp chữ nhật được tạo bỡi các khung sắt hình chữ nhật, trên phần nắp lồng được đặt một cái ống nhựa f = 10 -15 cm để thuận tiện trong việc cho ăn.

Vật liệu sắt, cách làm khung, vật liệu lưới và cách bệnh lưới vào khung sắt tương tự như lồng hở.

Loại lồng này không cố định bằng cọc, có thể di chuyển một cách dễ dàng từ nơi này đến nơi khác.

Trong trường hợp tại nơi nhiều sóng gió loại lồng này phải được cố định bằng các dây neo.

* Dù là kiểu lồng kín hay lồng hở ta đều phải đặt lồng cách đáy ít nhất là 0,5m.

* Nhược điểm của loại lồng này là khó thao tác chăm sóc quản lí hơn kiểu lồng hở.

c/ Lồng ương tôm giống

Lồng ương tôm giống chủ yếu thiết kế theo kiểu lồng kín, khung lồng được làm bằng sắt (f =16 -20), kích thước lồng phổ biến là 2x2x2 m, lưới lồng được làm 2 lớp, với kích thươc mắt lưới 2a = 2-3 mm.

d/ Bè nuôi

Hiện nay, do hiện tượng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng nên việc việc nuôi tôm hùm lồng bằng bè trở nên ưu thế hơn lồng cố định hay lồng chìm, tuy nhiên việc nuôi tôm hùm bằng bè cần lưu ý một số điểm sau:

– Vùng đặt bè phải kín gió, vật liệu làm bè như phao, gỗ, dây neo phải chắt chắn tránh bè bị chao đảo nhiều.

– Cần phải che mát lồng bằng các vật liệu: Bạt, cót…

3/ Thả tôm.

a/ Chọn giống thả nuôi.

Hiện nay, trong nước cũng như trên thế giới chưa sản xuất được giống tôm hùm, nguồn giống phụ thuộc hoàn toàn vào đánh bắt tự nhiên. Kích cỡ giống thường không đồng đều, con giống được đánh bắt bằng nhiều phương tiện khác nhau kể cả việc sử dụng các loại thuốc gây mê, thuốc nổ,… thời gian lưu giữ dài ngày và kỹ thuật lưu giữ không tốt nên khi nuôi thường dẫn đến một hậu quả là tôm thường chết nhiều vào giai đoạn đầu thả nuôi, tỷ lệ sống thấp và tôm chậm lớn,….

Ðể chọn được giống tốt ta cần chú ý một số vấn đề sau:

– Giống nuôi tốt nhất nên mua tại địa phương nhằm tránh sự khác biệt về điều kiện môi trường, thời gian vận chuyển xa làm yếu tôm và tránh con giống đã được lưu giữ dài ngày (một số điểm để nhận biết tôm giống đã lưu giữ dài ngày là : chạt đuôi bị phòng, bị tổn thương; các phụ bộ bị tổn thương đã chuyển sang màu đen, màu sắc của tôm trở nên đen sậm, vỏ không còn bóng láng và tôm hoạt động yếu ớt, chậm chạp.)

– Giống được đánh bắt một cách tự nhiên không qua việc sử dụng thuốc nổ hay bất kỳ một loại hóa chất gây mê nào khác.( loại tôm này thường còn nguyên vẹn các phụ bộ nhưng màu sắc của tôm thường chuyển sang màu hồng nhợt nhạt, phần đầu ngực và phần thân dãn ra hơn bình thường trông giống như tôm bị bệnh lỏng đầu do nhiệt độ nước cao hay độ mặm hạ thấp, tôm hoạt động chậm chạp yếu ớt; việc đánh bắt tôm tại các vùng biển có độ mặn thấp do ảnh hưởng của mưa lũ gây ra cũng có hiện tượng tương tự). Khi mua phải loại tôm này tôm nuôi sẽ chết từ rải rác đến hàng loạt vào giai đoạn đầu thả nuôi.

– Tôm giống phải có hình dáng cân đối, đầy đủ các phần phụ, không trầy sướt, thương tổn, có màu sắt tươi sáng tự nhiên, tôm khoẻ mạnh, không mang mầm bệnh.

– Chọn giống có kích cỡ đồng đều, cùng giới tính để nuôi trong cùng một lồng, kích cỡ giống nuôi có thể dao động từ 100 -500g/con . Trong trường hợp sử dụng nguồn con giống có kích cỡ nhỏ như dạng tôm bò cạp ta phải tiến hành giai đoạn ương nuôi sau đó tuyển chọn lại và đưa và nuôi thương phẩm.

b/ Cách vận chuyển tôm giống đến nơi thả nuôi.

Tôm hùm có phương thức hô hấp tương tự như các loài cua, ghẹ chúng có khả năng sử dụng được nguồn oxy trong không khí và có khả năng chịu được ngưỡng oxy thấp.

Có 2 phương pháp vận chuyển giống là vận chuyển nước có sục khí và phương pháp vận chuyển khô:

+ Phương pháp vận chuyển nước: Là phương pháp vận chuyển sử dụng nước có sục khí để cung cấp oxy, nhiệt độ nước trong quá trình vận chuyển là 22 – 25 độ C bằng cách cho đá lạnh vào các bọc nhựa sau đó bỏ vào dụng cụ chứa, mật độ vận chuyển phụ thuộc vào kích cỡ tôm và thời gian vận chuyển. Phương pháp này thường áp dụng khi thời gian vận chuyển >2 giờ.

+ Phương pháp vận chuyển khô: Cách tiến hành của phương pháp này là ta tiến hành sốc nhiệt ở nhiệt độ 20 – 22 độ C sau đó buộc tôm vào trong các khăn lông đã nhúng nước và sắp theo từng lớp vào thùng xốp đã chuẩn bị sẵn sao cho các lớp tôm không chồng lên nhau, chú ý giữa các lớp tôm ta rải thêm đá lạnh cũng bằng cách bỏ vào trong các túi nhựa sao cho vừa đủ bảm bảo giữ nhiệt độ ổn định từ 22 – 25 độ C, phương pháp này áp dụng cho thời gian vận chuyển < 2 giờ.

c/ Thả tôm

Khi tôm vận chuyển đến lồng nuôi ta tiến hành nâng dần nhiệt độ lên cho đến khi gần bằng với nhiệt độ môi trường nuôi bằng cách cho dần dần nước từ môi trường nuôi vào dụng cụ chứa tôm sau đó thả tôm vào các giai đã đặt sẵn trong lồng sau 30 – 60 phút cho tôm hồi phục sức khỏe hoàn toàn ta mới thả tôm ra.

Trong quá trình thả tôm ta phải thả tôm đực riêng, cái riêng và thả theo từng nhóm kích cỡ không nên thả chung.

d/ Mật độ nuôi

Tôm hùm chủ yếu sống ở tầng đáy, nên mật độ nuôi được tính theo diện tích đáy lồng. Tùy vào kích cỡ tôm, mức độ đầu tư, điều kiện môi trường mà ta có thể nuôi với mật độ cao hay thấp. Ðối với tôm giống có kích cỡ từ 100g/con trở lên ta có thể thả nuôi với mật độ từ 8 -10 con/m2.

4/ Thời vụ thả nuôi.

Trong tự nhiên tôm hùm được khai thác quanh năm nhưng tập trung lượng giống nhiều vào các tháng 8 -12 hàng năm nên vào thời gian nay chúng ta nên tập thả giống nuôi.

5/ Chăm sóc và quản lí.

Chăm sóc quản lí là khâu đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của suốt quá trình nuôi.

– Thức ăn và cách cho ăn: Tôm hùm là loại tạp ăn, thức ăn chủ yếu là cá tạp, cua, ghẹ, cầu gai, .và các loại nhuyễn thể. Cho ăn chủ yếu là cho ăn tươi, tuỳ vào kích cở tôm, cở mồi mà ta có thể băm nhỏ thức ăn hay không. Có thể cho tôm hùm ăn 2 lần/ngày nhưng phải đặc biệt chú ý cho ăn nhiều vào các buổi sáng sớm và chiều tối. Lượng cho ăn hằng ngày từ 15-20% trong lượng đàn tôm. Trong những ngày trước lúc lột xác 4 – 5 ngày tôm ăn rất mạnh và đang trong thời kì lột xác nhiều tôm giảm ăn chính vì vậy ta cần chú ý vào các thời điểm này mà điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Quá trình lột xác của tôm phụ thuộc vào chu kì con nước, thường thì tôm sẽ lột xác nhiều vào cuối kì con nước lớn.

– Quản lí: Thường xuyên lặn kiểm tra lồng, kiểm tra tình trạng tôm, kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu để từ đó có hướng giải quyết kịp thời. Ðịnh kỳ 10 -15 ngày vệ sinh lồng nuôi một lần đảm bảo môi trường sạch sẽ thông thoáng.

6/ Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị.

a/ Bệnh đóng rong.

* Nguyên nhân do các nguyên nhân sau:

– Ðộ trong của nước cao làm khả năng xuyên sâu ánh sáng lớn.

– Tôm ít hoạt động, kém ăn chậm lớn, chu kỳ lột xác chậm.

* Phòng bệnh:

– Che mát làm giảm độ trong của nước mà đặc biệt chú ý là vào mùa nắng nóng.

– Tăng sức đề kháng cho tôm bằng cách sử dụng thức ăn đủ về chất lẫn về lượng.

– Vệ sinh lồng nuôi sạch sẽ, tạo môi trường thông thoáng, mật độ nuôi vừa phải.

*Trị bệnh:

– Bắt những con tôm bệnh tắm bằng formol với nồng độ 100 – 200ppm (1 -2 ml formol/10 lít nước), trong thời gian từ 5 – 10 phút.

b/ Bệnh đen mang, mòn đuôi, hoại tử các phần phụ.

* Tác nhân gây bệnh chủ yếu là do vi khuẩn mà nguyên nhân chủ yếu là do lồng nuôi bị dơ bẩn, môi trường nước bị ô nhiễm, tôm kém ăn sức khỏe yếu.

* Phòng bệnh: Thường xuyên vệ sinh lồng nuôi sạch sẽ, tạo môi trường thông thoáng, tăng cường sức khỏe cho tôm bằng cách cho tôm ăn thức ăn đầy đủ cả về chất lẫn về lượng, ngoài ra còn có thể bổ sung thêm Vitamin C vào thành phần thức ăn của tôm với liều lượng từ 5 -10g/kg thức ăn.

* Trị bệnh:

– Có thể tắm tôm bằng formol với nồng độ 100 -200 ppm hoặc tắm tôm bằng sunfat đồng (CuSO4) với nồng độ 1- 2 ppm (0,01 -0,02g CuSO4/10 lít nước) trong thời gian từ 5- 10 phút.

– Sử dụng các loại thuốc kháng sinh: N – 300, Daitrim,.. trộn vào thức ăn với liều lượng từ 3 -5 g/1kg thức ăn cho ăn liên tục từ 5 -7 ngày.

c/ Bệnh lỏng đầu.

* Nguyên nhân:

– Chủ yếu là do độ mặn tại khu vực nuôi giảm thấp dưới 25 phần ngàn và kéo dài nhiều ngày.

– Ngoài ra vào mùa nắng nóng , nhiệt độ nước quá cao > 31 độ C tôm nuôi cũng dễ xảy ra hiện tượng này.

* Phòng và trị bệnh:

– Ðặt lồng nuôi tại vị trí có độ mặn cao và tương đối ổn định. Di chuyển lồng nuôi đến vị trí có độ mặn cao hơn.

– Che mát cho tôm vào mùa nắng nóng, di chuyển đến vị trí có độ sâu cao.

c/ Bệnh lỏng đầu.

* Nguyên nhân:

– Chủ yếu là do độ mặn tại khu vực nuôi giảm thấp dưới 25 phần ngàn và kéo dài nhiều ngày.

– Ngoài ra vào mùa nắng nóng , nhiệt độ nước quá cao > 31 độ C tôm nuôi cũng dễ xảy ra hiện tượng này.

* Phòng và trị bệnh:

– Ðặt lồng nuôi tại vị trí có độ mặn cao và tương đối ổn định. Di chuyển lồng nuôi đến vị trí có độ mặn cao hơn.

– Che mát cho tôm vào mùa nắng nóng.

7/ Thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm.

Sau thời gian nuôi từ 12 -15 tháng tùy vào cỡ giống, mật độ nuôi và mức độ đầu tư tôm có thể đạt khối lượng từ 1,2 kg/con trở lên ta tiến hành thu tỉa những con có khối lượng lớn, cứng vỏ, không mang trứng vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Phương pháp vận chuyển đến nơi tiêu thụ tương tự như cách vận chuyển tôm giống đến nơi thả nuôi.

(Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Ninh Thuận)

 

Để nâng cao năng suất tôm hùm nuôi thương phẩm

Các chế độ chăm sóc, quản lý, thiết kế lồng nuôi và chọn mật độ thả thích hợp là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến vụ nuôi. Sau đây là một số lưu ý nhằm giúp tăng năng suất trong nuôi tôm hùm thương phẩm…

  1. Lồng nuôi: Để tận dụng tối đa diện tích thì lồng nên có dạng hình khối hộp vuông, vì hình vuông có diện tích lớn nhất, đồng thời lưu thông nước ở từng vị trí đặt lồng nuôi không theo hướng dẫn nhất định. Tùy theo quy mô nuôi, điều kiện chăm sóc quản lý và nguyên vật liệu làm lồng mà sử dụng kích thước lồng khác nhau. Tuy nhiên, lồng càng lớn khả năng lưu thông nước bên trong và ngoài lồng càng giảm, đồng thời năng suất tôm hùm nuôi lồng tỉ lệ nghịch với độ lớn của lồng. Người nuôi nên dùng loại lồng 16-20m2 là phù hợp với quy mô hộ gia đình và năng suất tôm hùm nuôi.
  2. Vị trí đặt lồng: Nên đặt lồng nuôi ra vùng xa bờ để trao đổi nước tốt hơn. Độ sâu mức nước nơi đặt lồng tối thiểu khi triều thấp là 4m (đối với nuôi lồng găm), từ 4–8m (đối với nuôi lồng sắt) và hơn 8m (đối với lồng nổi). Đáy lồng cách đáy biển hơn 0,5m là tốt nhất. Nơi đặt lồng nuôi phải đảm bảo cách bờ hơn 1.000m. Nền đáy là cát hoặc cát pha bùn có lẫn san hô gạc nai và không bị ô nhiễm. Môi trường nước vùng nuôi tôm hùm phải đảm bảo các chỉ tiêu: nhiệt độ từ 24-310C; pH: 7,5–8,5; độ muối từ 30–35‰; ôxy hòa tan: 6,2–7,2mg/l.
  3. Mật độ thả: Mật độ ương nuôi tôm hùm tùy thuộc vào kích cỡ của tôm giống. Cỡ giống tôm trắng: 30-40 con/m2lồng; Cỡ giống 1,5-4,0g/con thả 25-30 con/m2 lồng; Cỡ giống 4-10g/con thả 15-20 con/m2 lồng; Cỡ giống 10-50g/con thả 10-15 con/m2 lồng; Cỡ giống 50-200g/con thả 7-10 con/m2 lồng; Cỡ giống hơn 200g/con trở lên thả 3–5 con/m2lồng.
  4. Khoảng cách giữa các lồng nuôi: Khoảng cách giữa các lồng nuôi cần bố trí phù hợp để đảm bảo sự lưu thông nước tốt. Đối với các vùng nuôi nhiều nên duy trì 30–60 lồng/ha mặt nước.
  5. Thức ăn cho tôm: Thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống bao gồm các loại động vật giáp xác (tôm, cua, ghẹ…), động vật thân mềm (sò lông, sò đá, ốc bươu vàng…), các loài cá tạp (cá sơn, cá liệt, cá mối, cá chuồn…). Trong đó, thức ăn là giáp xác đóng vai trò quyết định trong thành phần dinh dưỡng của tôm hùm nuôi vì loại thức ăn này có hàm lượng axit béo không no phức hợp và axit béo không no cao phân tử (chiếm 6,1%) cao vượt trội hơn so với thức ăn là cá và thân mềm. Tuy nhiên, nếu kết hợp ba loại thức ăn tươi là cá, giáp xác và thân mềm theo một tỉ lệ nhất định ở từng thời kỳ phát triển của tôm nuôi là một giải pháp tối ưu về giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế trong tôm hùm nuôi lồng. Công thức cho ăn: 1 phần giáp xác + 1 phần thân mềm + 2 phần cá, tôm sẽ có tốc độ sinh trưởng nhanh, hệ số thức ăn thấp. Đây là thức ăn kết hợp có hiệu quả cao nhất và tiết kiệm được chi phí thức ăn so với việc sử dụng các loại thức ăn khác.
  6. Quản lý và chăm sóc tôm: Đối với tôm cỡ ≥ 200g/con, cho ăn 2 lần/ngày vào sáng sớm và chiều tối, lượng cho ăn vào chiều tối chiếm 70% lượng thức ăn trong ngày. Thức ăn cho tôm có thể để nguyên con hoặc cắt nhỏ. Tùy loại thức ăn mà xác định lượng cho ăn hợp lý, khẩu phần ăn hàng ngày bằng khoảng 15-17% khối lượng tôm thả. Hàng ngày nên kiểm tra, theo dõi tình trạng sức khỏe, hoạt động của tôm và mức độ sử dụng thức ăn để có điều chỉnh hợp lý. Loại bỏ thức ăn thừa, vỏ lột xác; định kỳ vệ sinh lồng nuôi tránh bị rong rêu bám làm bít lỗ lưới. Đối với các lồng nuôi tôm hùm con, do có mắt lưới nhỏ nên thường bị sun, hà bám vì vậy cần vệ sinh định kỳ để tạo sự lưu thông nước tốt, hạn chế ô nhiễm. Khi tôm đạt cỡ 500-600g/con nên san thưa tôm với mật độ 4-5 con/m2 lồng. Sau 20-24 tháng nuôi có thể thu hoạch tôm hùm thương phẩm.

Trong quá trình nuôi nếu thấy chất đáy có màu nâu và sinh vật đáy chủ yếu là nhuyễn thể thì đó là dấu hiệu tốt. Nếu chất đáy có màu đen đậm, mùi khó chịu và sinh vật đáy chủ yếu là giun nhiều tơ thì đó là những dấu hiệu không tốt, không nên tiến hành vụ nuôi. 

NGỌC NHƯ, Báo Phú Yên, 25/9/2012

 

Kết quả bước đầu nghiên cứu một số bệnh thường gặp ở tôm hùm bông (Panulirus ornatus) nuôi lồng tại vùng biển Sông Cầu, Phú Yên

 

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu kỹ thuật nuôi tôm hùm lồng những năm qua làm cơ sở cho ngư dân ven biển miền Trung, đặc biệt là Phú Yên phát triển mạnh nghề nuôi tôm hùm lồng. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, năm 2001 toàn tỉnh Phú yên có hơn 11.000 lồng, riêng huyện Sông Cầu có khoảng 10.000 lồng nuôi tôm hùm, chủ yếu là nuôi tôm hùm bông (P.ornatus) và tập trung ở các xã ven biển như: Xuân Phương, Xuân Thịnh, Xuân Cảnh, Xuân Thọ và thị trấn Sông Cầu.

Tuy vậy, sự phát triển tự phát và việc quản lý chưa tốt đặc biệt là thức ăn nuôi tôm hùm lồng chủ yếu là thức ăn tươi sống, gây ô nhiễm môi trường vùng nuôi, làm dịch bệnh xảy ra. Trước thực trạng đó, hướng tìm hiểu hiện trạng bệnh tôm hùm nuôi lồng ở nơi có nghề nuôi tôm hùm.

1. Phương pháp thu mẫu:

Mẫu thu chọn lọc, tại thời điểm tôm thường mắc bệnh, chọn những con có dấu hiệu bệnh lý (yếu, lờ đờ, kém ăn, màu sắc thay đổi ) đem vào nghiên cứu. Thu mẫu 7 lần với số lượng 21 con có trọng lượng từ 60 500 gam/con (trung bình : 280 gam/con).

2. Phương pháp nghiên cứu sinh vật gây bệnh

+ Phân lập, định danh vi khuẩn : Dựa vào khoá phân loại vi khuẩn của Bergey, 1994.

+ Xác định vi khuẩn tổng số và vi khuẩn vibrrio : sử dụng phương pháp Kock.

+ Nghiên cứu độ nhạy kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh : Phương pháp đĩa nhạy kháng sinh có cải tiến của Kirby Bauer, 1986.

+ Nghiên cứu ký sinh trùng: sử dụng phương pháp của viện sỹ V.A.Dogiel, 1960.

+ Nghiên cứu nấm : nuôi cấy bệnh phẩm trên môi trường PGYA (Pepton Glucose Yeast agar) được làm với NaCl 2%, kết hợp với một số kháng sinh để chống sự phát triển của vi khuẩn.

3. Phương pháp thu thập thông tin về bệnh tôm hùm nuôi lồng

Việc thu thập thông tin dựa trên 2 nguồn chính là :

+ Từ các cơ quan chuyên ngành như phòng NN&PTNT Sông Cầu, Sở Thuỷ sản Phú Yên và từ những người có liên quan đến hoạt động nuôi tôm hùm lồng, chủ yếu là phỏng vấn trực tiếp và điều tra bằng phiếu hỏi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1. Hiện trạng bệnh ở tôm hùm bông nuôi lồng tại Sông Cầu, Phú Yên

Qua tìm hiểu phân tích thực trạng bệnh ở tôm hùm bông nuôi lồng tại Sông Cầu, Phú Yên chúng tôi phát hiện một số bệnh thường xảy ra ở tôm hùm khu vực này như sau :

Mộtsố bệnh thường gặp ở tôm hùm bông nuôi lồng tại Sông Cầu, Phú Yên

STT Dấu hiệu đặc trưng Giai đoạn tôm mắc bệnh Mô tả dấu hiệu bệnh lý Tác hại của bệnh
1 Trắng râu Tôm con Râu 1 chuyển từ nâu sang vàng, hồng rồi sang trắng Chết hàng loạt
2 Long đầu Tôm con, tôm trưởng thành Phần giáp đầu ngực và phần thân long ra, có chất dịch bên trong lớp biểu bì khu vực này Chết rải rác đến hàng loạt
3 Ðầu to Tôm con, tôm trưởng thành Phần giáp đầu ngực tôm rất lớn, khác thường, phần thân và đuôi nhỏ Chết rải rác
4 Mềm vỏ Tôm trưởng thành Toàn bộ cơ thể tôm mềm kéo dài như lúc vừa mới lột xác Chết rải rác
5 Ðóng sun, hầu Tôm trưởng thành Nhìn bề ngoài thấy sun, hầu bám đầy ở phần giáp đầu ngực Chết rải rác
6 Ðen mang Tôm con, tôm trưởng thành Mang tôm thối rữa và chuyển màu đen Chết hàng loạt
7 Phồng mang Tôm con, tôm trưởng thành Mang tôm phồng lên, có chất dịch vàng dưới lớp biểu bì nắp mang Chết rải rác đến hàng loạt
8 Ðỏ thân Tôm con, tôm trưởng thành Toàn bộ thân tôm chuyển sang màu hồng, tôm yếu dần, bỏ ăn và chết Chết hàng loạt

 

Nhận xét: Qua bảng trên thấy rằng, tôm hùm nuôi lồng tại vùng biển Sông Cầu, Phú Yên có dấu hiệu bệnh lý khá đa dạng. Tỷ lệ tôm chết khi mắc các bệnh mềm vỏ, long đầu, đóng sun hay hầu và bệnh đầu to là ít, chỉ chết rải rác không gây hại đáng kể cho người nuôi một khi biết cách ngăn ngừa. Tuy nhiên, đối với bệnh đỏ thân, trắng râu và đen mang lại có tần số xuất hiện cao, gây chết tôm hùm nuôi hàng loạt và nhanh chóng (sau 3-7 ngày khi phát hiện dấu hiệu bệnh lý). Ðặc biệt dấu hiệu tôm đỏ thân – dấu hiệu thường gặp nhất ở mọi kích cỡ tôm từ 50 gr/con đến 1200 gr/con. Ðây có thể là sản phẩm tổng hợp của nhiều tác nhân gây bệnh tác động vào tôm hùm nuôi. Do vậy cần có những nghiên cứu sâu hơn về các tác nhân, biện pháp phòng trị bệnh đỏ thân cũng như bệnh trắng râu và đen mang ở tôm hùm bông nuôi lồng khu vực này.

2. Vi khuẩn

Qua 7 lần lấy mẫu phân tích, kết quả phân lập vi khuẩn, nấm và động vật ký sinh trên tôm hùm bông nuôi lồng ở Sông Cầu, Phú Yên được thể hiện như sau :

Vi khuẩn luôn luôn là tác nhân chủ yếu gây nhiều bệnh cho tất cả các sinh vật gồm vi khuẩn VibrrioAeromonasPseudomonasProteus. Không những tôm he (Penaeus) nuôi ở nước mặn thường bị cảm nhiễm vi khuẩn Vibrio mà ở tôm hùm (Panulirus) nuôi lồng trên biển cũng cho kết quả tương tự. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với phát hiện của Evans (1987) khi nghiên cứu bệnh vi khuẩn trên tôm hùm. Tuy vậy, tần số bắt gặp các giống vi khuẩn này khác nhau, trong đó vi khuẩn vibrio gặp ở hầu hết các đợt mẫu nghiên cứu. Do đó việc nghiên cứu Vibrio là một trong những hướng chủ yếu.

Từ kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái, thực hiện các phản ứng sinh vật hoá học, dựa vào khoá phân loại vi khuẩn của Bergey, chúng tôi có thể xác định tên của chủng vi khuẩn Vibrio đã phân lập là V.parahaemolyticus.

Ðể làm cơ sở khoa học cho việc dùng kháng sinh phòng trị bệnh vi khuẩn ở tôm hùm nuôi lồng, chúng tôi thử độ nhạy một số kháng sinh đối với vi khuẩn V.parahaemolyticus. Kết quả thu được như sau :

Kếtquả thử độ nhạy kháng sinh của vi khuẩn V.parahaemolyticus

Loại ký sinh   –     Ðộ nhạy  Nalidixic acid (30 mg/dĩa) Ciprofloxacin (5 mg/dĩa) Cephalexin (30 mg/dĩa) Norfloxacin (10 mg/dĩa) Bactrim (1,25/23,75mg/dĩa)
Ðường kính vòng vô khuẩn (mm) 24 26 27 29 9 11 26 28 15 17
Loại ký sinh Ðộ nhạy Ofloxacin (5 mg/dĩa) Gentamycin (10 mg/dĩa) Cefurantin (30 mg/dĩa) Doxycyclin (30 mg/dĩa) Cefoperazone (75 mg/dĩa)
Ðường kính vòng vô khuẩn (mm) 22 24 13 15 12 14 20 22 19 – 21

 

Các loại kháng sinh có độ nhạy cao với vi khuẩn V.parahaemolyticus trong điều kiện thí nghiệm là : Ciprofloxacin, Nalidixic acid, Norfloxacin hiện tại có khả năng phòng trị tốt bệnh vi khuẩn ở tôm hùm nuôi lồng khu vực Sông Cầu, Phú Yên. Tuy vậy, không phải khi nào cũng có hiệu quả, có thể do các nguyên nhân :

– Do nồng độ kháng sinh dùng trong thức ăn thấp hơn nồng độ cần thiết (có thể do thuốc khó hoà tan hoặc trong thức ăn hay trong nước có sẵn một số chất kháng có thể kết hợp làm mất tác dụng kháng sinh).

– Do sự kháng thuốc của vi khuẩn V.Parahaemolyticus, là vi khuẩn Gram âm, dễ xảy ra kháng thuốc.

– Do tác nhân chính gây nên bệnh đỏ thân chưa phải là V.parahaemolyticus. Ðây là vấn đề, cần nghiên cứu thêm.

3. Nấm và vật ký sinh

Ngoài vi khuẩn, nấm và động vật ký sinh cũng là 2 tác nhân gây bệnh thường gặp trên các sinh vật nuôi. Các mẫu tôm hùm bông đem nghiên cứu, qua kiểm tra trực tiếp bằng mắt thường, kính hiển vi và phân lập trên môi trường PGYA chúng tôi thu được kết quả là tôm hùm nuôi lồng khu vực Sông Cầu, Phú yên thường nhiễm nấm Lagenidium sp, với tần số bắt gặp khá lớn (>50% số mẫu nghiên cứu), nấm fusarium sp bắt gặp ít hơn (30% số mẫu nghiên cứu). Tuy nhiên khả năng gây hại ở các loại nấm này chưa rõ ràng khi tần số bắt gặp thấp trên tôm hùm nuôi lồng, nhưng chúng lại rất nguy hiểm ở giai đoạn ấu trùng, có thể gây chết 90% ấu trùng trong vòng 49 – 72 giờ (Nilsson và ctv, 1976).

Nhận xét và khuyến nghị

1. Nhận xét

+ Tôm hùm bông nuôi lồng tại Sông Cầu, Phú Yên thường gặp một số bệnh ; trắng râu, long đầu, đóng sun hay hầu, đầu to, mềm vỏ, đen mang, phồng mang và bệnh đỏ thân. Trong đó bệnh trắng râu, đỏ thân và đen mang có tần số xuất hiện bệnh cao, gây chết tôm hàng loạt và nhanh chóng. Ðặc biệt là bệnh đỏ thân gặp ở mọi giai đoạn tôm nuôi từ 30 g/con đến 1.200 g/con, gây thiệt hại đáng kể cho người nuôi tôm hùm lồng khu vực này.

+ Vi khuẩn thường gặp trên tôm hùm bông nuôi lồng tại Sông Cầu, Phú yên có các giống : Vibrio, Aeromonas, Pseudomonas, Proteus. Trong đó giống Vibrio đặc biệt là loài V.parahaemolyticus gặp ở tất cả các đợt lấy mẫu phân tích.

+ Có thể sử dụng một số kháng sinh như Norfloxacin, Nalidixic acid, Ciprofloxacin để phòng trị bệnh Vibrio ở tôm hùm nuôi lồng. Tuy vậy, việc sử dụng này cần lưu ý đến nồng độ và khả năng kháng thuốc của vi khuẩn.

+ Nấm thường gặp trên tôm hùm bông nuôi lồng tại Sông Cầu, Phú yên có các giống : Lagenidium và Fusarium. Tỉ lệ tôm hùm bông nuôi lồng nhiễm 2 loại nấm này lại khác nhau, nấm lagenidium nhiều hơn nấm fusarium.

+ Ðộng vật ký sinh trên tôm hùm bông nuôi lồng tại Sông Cầu, Phú Yên, bước đầu đã tìm thấy bọn sun, hầu bám ở phần giáp đầu ngực của tôm hùm nuôi. Chúng có thể là tác nhân cơ hội gây bệnh cho tôm hùm.

2. Khuyến nghị

Ðể có những biện pháp hữu hiệu phòng tránh bệnh cho tôm hùm cần quan tâm nghiên cứu sâu về :

+ Các tác nhân và biện pháp phòng trị bệnh đỏ thân, trắng râu và đen mang, vì đây là những bệnh thường gặp và gây thiệt hại nhiều cho người nuôi tôm khu vực này. Cần nghiên cứu thêm về nấm và động vật ký sinh.

+ Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp ở tôm hùm bông nuôi lồng (qui hoạch vùng nuôi, qui trình chăm sóc, thức ăn, mật độ thả và các biện pháp phòng bệnh tổng hợp)

 

ThS. Võ Văn Nha – Trung tâm NCTS 3, Tap chi KHTS 2/2003

 

Be the first to comment

Gửi phản hồi