Nuôi dê lấy sữa – Kỹ Thuật nuôi dê sữa

Lâu nay ta chỉ nghĩ tới việc nuôi dê để lấy thịt. Nhưng trên thế giới, nghề nuôi dê lấy sữa rất thịnh hành. Có những con dê, một năm có thể cho tới 2.950 lít sữa – chả khác gì con bò!

Tôi còn nhớ khi PGS-TS Đinh Văn Bình – nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ (ở Sơn Tây, Hà Nội) bị tai nạn giao thông, tôi vội đến thăm ông. Thật hết sức thương xót khi thấy 2 cánh tay và toàn bộ khuôn mặt của ông bị phá hủy. Ông phải nằm bất động và băng kín từ đầu tới tận chân…

Nhưng không ngờ, chỉ mấy tháng sau, các vết thương của ông Bình lành rất nhanh, sẹo cũng bớt hẳn. Ông vẫn nằm đấy nhưng thì thào với tôi: “Nhờ sữa dê đấy anh ạ!…”.

Nuoi de lay sua, hay thu xem!
Ảnh minh họa

Ông Bình cho tôi biết: Ông không ăn được nhưng mỗi ngày cố uống hết 2 lít sữa dê do anh em ở đơn vị mang tới. Sữa dê không những tăng cường sinh lực, mà còn giúp ông mau lành vết thương. Sau 1 năm, gặp lại ông, ít ai có thể tưởng tượng được rằng ông đã từng trải qua một tai nạn khủng khiếp. Bây giờ trông ông như người bình thường. Vậy mới biết, sữa dê tốt thật!

Lâu nay ta chỉ nghĩ tới việc nuôi dê để lấy thịt. Nhưng trên thế giới, nghề nuôi dê lấy sữa rất thịnh hành. Họ chọn lọc, lai tạo và thuần dưỡng ra những giống dê chuyên cho sữa. Có những con dê, một năm có thể cho tới 2.950 lít sữa – chả khác gì con bò!

Chúng ta càng ngạc nhiên hơn khi biết rằng, sữa dê bổ hơn sữa bò và người Bắc Âu còn thích sữa dê hơn cả sữa bò. Trên Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây, anh em cho biết: Có bao nhiêu sữa dê và pho-mat dê mà trung tâm sản xuất ra là các đại sứ quán ở Hà Nội đăng ký mua hết, rất ít khi còn dư để bán ra ngoài.

Mời các bạn xem video clip kỹ thuật nuôi dê – có cả nuôi dê thịt và nuôi dê sữa:

Hiện trên thế giới có một số giống dê chuyên sữa hoặc vừa cho thịt, vừa cho sữa. Nổi tiếng nhất là giống Xa-nen (Saanen) của Thụy Sĩ. Giống dê này có tầm vóc lớn, cân đối, thành thục sớm và cho sản lượng sữa cao. Con đực khi 2 tuổi nặng 60kg, 3-5 tuổi nặng 70kg, có con còn nặng tới 100kg. Dê cái thì nhỏ hơn, chỉ khoảng 50 – 60kg. Chu kỳ tiết sữa của nó kéo dài 8 – 10 tháng và cho sản lượng sữa từ 800 – 1.000 lít.

Ở Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây, người ta còn nhập một loài dê khác cũng của Thụy Sĩ, đó là con An-pin. Con này có lông đen khoang trắng dọc thái dương xuống má, ở mông và ở cả chân. Loài này cũng to, cao, sản lượng sữa cũng đạt từ 800 – 900kg/năm, dễ nuôi và hiệu quả tốt.

Ngoài ra, giống Togenbua (Toggenburg) cũng là một giống dê chuyên sữa. Nó là giống của Thuỵ Sĩ, không thua kém gì con Xa-nen. Mỗi ngày, một con Togenbua có thể cho ta từ 2,4 – 5,2 lít sữa. Ai nuôi một con Togenbua cũng đủ sữa cho cả nhà uống thoải mái.

Giống dê Anglo Nubian (của Ai Cập), dê lông ngắn của CH Czech, dê lông trắng của Bungari, dê Nubi của châu Phi… cũng là các giống dê chuyên sữa.

Muốn hiểu biết thêm về dê sữa, xin liên hệ với TS Ngô Thành Vinh – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây (Bộ NNPTNT), điện thoại: 0912.497.160.

Kỹ thuật nuôi dê lấy sữa

Hình minh họa nuôi dê lấy sữa

I. Chế độ dinh dưỡng

Chế độ nuôi dưỡng tốt phải đảm bảo cho dê mẹ phát triển bình thường khi có chửa, cho nhiều sữa trong thời kỳ cho sữa. Trước và sau khi đẻ phải cho dê ăn ngon, cháo cám… tùy theo năng suất, chất lượng sữa. Năng suất, chất lượng sữa phụ thuộc vào thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn. Thiếu thức ăn thô xanh, nhất là thức ăn thô xanh non ngon thì chất lượng sữa sẽ kém. Thừa thức ăn tinh hỗn hợp thì không chỉ chất lượng sữa giảm, chi phí thức ăn tăng mà còn có thể gây nên nhiều bệnh tật, nhất là các bệnh sản khoa trước, trong và sau khi sinh.
Chế độ nuôi dưỡng dê sữa phải căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng. Nhu cầu vật chất khô của dê mẹ vào cuối kỳ có chửa giảm còn trung bình 2 kg/100 kg thể trọng. Sau đó, nhu cầu vật chất khô tăng và đạt mức cao nhất vào tuần lễ thứ 14-15 (trung bình 4,5 kg/100 kg thể trọng), rồi lại giảm dần. Nói chung, nhu cầu vật chất khô của dê sữa khoảng 5-6% thể trọng là thích hợp.
II. Tiêu chuẩn thức ăn
Trong thời kỳ cạn sữa, cần đảm bảo tiêu chuẩn ăn cho thai phát triển tốt làm cơ sở để giai đoạn sau đạt năng suất sữa cao. Trong thời kỳ cho sữa, tiêu chuẩn cho ăn thay đổi tùy theo năng suất và phẩm chất sữa. Nếu tỷ lệ mỡ sữa là 4-4,5%, năng suất 1 kg/ngày thì dê sữa cần thêm 0,4 đơn vị thức ăn và 50 gram Protein dễ tiêu.
Đối với dê cái non, mới giao phối lần đầu, chưa thành thục tăng thêm 10% đơn vị thức ăn và lượng Protein dễ tiêu. Đối với dê cái mới đẻ tăng thêm 15 gam Protein dễ tiêu. Đối với dê cái sức yếu, mỗi ngày thêm 0,15 kg thức ăn và 20 gam Protein dễ tiêu. Đối với dê đang cho sữa, mỗi ngày thêm 0,2-0,3 kg thức ăn và 25-30 gam Protein dễ tiêu.

Ngoài thức ăn thô xanh phong phú chất lượng tốt, cần bổ sung thêm thức ăn giàu đạm, muối, khoáng, sinh tố… vào khẩu phần thức ăn hằng ngày cho dê.

Nếu đã cho ăn thêm thức ăn như vậy trong vòng 2 tuần mà năng suất sữa không tăng thì không nên cho ăn thêm nữa.
III. Nguyên tắc kết hợp khẩu phần ăn
-Căn cứ vào thể trọng của dê mẹ và năng suất sữa hằng ngày.
-Tận dụng nguồn thức ăn có sẵn ở địa phương để giảm giá thành nhưng phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn và đúng tỷ lệ năng lượng, Protein trong khẩu phần.
-Để kích thích tối đa khẩu vị của dê cần dùng nhiều loại thức ăn bổ sung cho nhau.

Theo kinh nghiệm nuôi dê sữa ở một số địa phương cho thấy: Đối với loại dê có thể trọng trung bình 40 kg, mỗi ngày cho 2 kg sữa và được chăn thả từ 5-6 giờ trên đồng cỏ tự nhiên, khi về chuồng cần cho ăn thêm mỗi con 1,5 kg cây keo dậu tươi hoặc cỏ họ đậu và 0,5 kg thức ăn hỗn hợp.

Nếu cho dê sữa ăn urê thì không được vượt mức 1% trọng lượng khẩu phần (tính theo vật chất khô) và không nhiều hơn 1/3 tổng số Protein. Nên cho dê ăn gỉ đường theo mức 5% trọng lượng thức ăn phối hợp. Nếu cho dê ăn cỏ khô họ đậu, thì bổ sung thêm thức ăn hỗn hợp có 14% Protein và photpho dạng mononatri photphat.
Nếu cho dê ăn cỏ khô họ Hòa Thảo, thì bổ sung thêm thức ăn hỗn hợp có 16-18% Protein. Nhất thiết phải cho dê sữa ăn thêm Canxi, photpho, muối ăn và iốt…

Be the first to comment

Gửi phản hồi