Làm giàu từ nuôi bò vỗ béo

Trong phát triển kinh tế gia đình thì nuôi bò vỗ béo là kinh tế phụ của nhiều nông hộ ở Bến Tre. Bởi bò là vật nuôi ít bị rủi ro, dễ nuôi, dễ chăm sóc, chi phí thức ăn thấp, chủ yếu lấy công làm lời nên được nông dân chọn nuôi. Những năm gần đây, với việc giá bò ổn định ở mức cao, nhiều nông dân ở xã Phú Lễ huyện Ba Tri đã đầu tư nuôi bò vỗ béo; đặc biệt có những hộ đầu tư nuôi qui mô lớn, đạt hiệu quả kinh tế cao…

Ông Hạ Chí Phát, ấp Phú Thạnh và anh Võ Công Lập ở ấp Phú Lợi, xã Phú Lễ, huyện Ba Tri là những nông dân đang nuôi bò vỗ béo quy mô lớn thành công tại tỉnh Bến Tre hiện nay. Trong những năm qua, gia đình ông Phát, anh Lập đạt thu nhập khá cao nhờ nghề nuôi bò vỗ béo.

Ông Phát nuôi bò vỗ béo khoảng 10 năm nay. Những năm trước đây, mỗi năm Ông chỉ nuôi từ 2 – 4 con, thức ăn chính để ông nuôi bò chủ yếu là cỏ, rơm. Nhận thấy việc nuôi bò vỗ béo dễ đạt kết quả và đem về hiệu quả kinh tế cao cho gia đình, cách nay 3 năm, Ông đầu tư xây chuồng trại, nuôi bò vỗ béo quy mô thường xuyên 20 bò đực giống lai Sind. Cách nuôi bò vỗ béo của ông Phát là Ông tìm chọn mua bò đực giống khoảng 10 – 12 tháng tuổi, Ông nuôi thời gian khoảng 6 – 8 tháng sẽ xuất bán. Nuôi theo cách này, mỗi năm ông Phát bán được 2 đợt bò. Với 1,5 hecta đất trồng lúa, sản xuất 3 vụ/năm, nguồn rơm đủ để làm thức ăn cho Ông nuôi số lượng bò trên. Ngoài ra để bò mau lớn, đẹp, Ông còn kết hợp cho bò ăn hèm, cám dừa…. Theo kinh nghiệm của ông Phát, để nuôi bò vỗ béo đạt kết quả thì việc chọn con giống và cách chăm sóc là yếu tố quyết định. Ông Phát cho biết: “Khi chọn bò giống phải chọn bò mập mạp, lưng bò rộng để nuôi, khi lớn bò mới có thịt bán giá cao. Trong quá trình nuôi 1 tuần phải tắm bò vài lần, cho bò uống nước cám ngày 2 lần, cỏ, rơm thì cho bò ăn đầy đủ bò mới mau lớn. Trong quá trình nuôi cần tiêm ngừa 1 hoặc 2 lần nuôi để bò không bị bệnh, tránh thiệt hại trong quá trình nuôi”.

Theo ông Phát cho biết, với cách nuôi bò như Ông, mỗi tháng chi phí đầu tư cho một con bò ăn khoảng 500.000 đồng. Sau 6 – 8 tháng nuôi, mỗi con bò ông xuất bán ở mức 18 – 20 triệu đồng. Sau khi trừ các chi phí, con giống, thức ăn, Ông còn lãi khoảng 2 triệu đồng mỗi con. Nhờ nuôi bò vỗ béo số lượng nhiều, 3 năm nay, mỗi năm ông Phát thu lãi từ 80 đến trên 100 triệu đồng.

Còn anh Võ Công Lập, ấp Phú Lợi, xã Phú Lễ, những năm trước đây mỗi năm nuôi 10 con bò, chủ yếu nuôi bò nái sinh sản để bán bò nghé. Hai năm nay thấy thị trường bò thịt giá cao, ổn định, anh không bán bò nghé mà để nuôi đồng thời mua thêm nghé đực về, tăng số lượng đàn bò nuôi vỗ béo mỗi năm 10 con. Để nuôi 20 con bò gồm bò nái sinh sản và bò vỗ béo, anh Lập trồng 1.500 m2 cỏ và mua 6 mẫu rơm, kết hợp cho bò uống nước cám dừa. Năm 2010, anh Lập bán 10 con bò thịt lãi trên 50 triệu đồng. Năm nay, anh tiếp tục nâng tổng đàn bò nuôi của mình là 23 con, trong đó có 13 bò đực được anh đầu tư nuôi vỗ béo. Anh Lập cho biết: “Nuôi bò vỗ béo ngoài việc chọn bò giống thì khâu quan trọng là cho bò ăn đầy đủ và cho ăn thúc ở giai đoạn khi còn từ 2 – 3 tháng bán bò. Chăm sóc bò tốt trong giai đoạn này giúp bò mướt, đẹp, trọng lượng cao, sẽ dễ bán cho khách hàng”.

Chị Trần Thị Ngọc Liên, cũng tại ấp Phú Lợi đã thoát nghèo nhờ nuôi bò vỗ béo. Từ số lượng nuôi trước đây chỉ 2 con mỗi năm, năm 2010 chị mạnh dạn đầu tư 57 triệu đồng mua 12 con bò nghé đực nuôi bò vỗ béo. Chị Liên vừa bán 10 con bò đực thịt được 170 triệu đồng. Nhờ tận dụng nguồn rơm từ ruộng lúa của gia đình cho bò ăn, nên sau khi trừ các chi phí con giống, nước cám, chị Liên còn lãi trên 60 triệu đồng, trong khi chị còn 2 con bò chưa bán trị giá trên 30 triệu đồng. Chị Liên vừa mua 7 bò nghé đực trị giá 64 triệu đồng để tiếp tục đầu tư nuôi vỗ béo.

Ông Lê Văn Nết, chủ tịch HND xã Phú Lễ cho biết: Xã Phú Lễ có số hộ nuôi bò chiếm tỷ lệ cao nhất so với các địa phương khác trong huyện Ba Tri. Toàn xã có 1.700 hộ dân, trong số này có khỏang 1.300 hộ nuôi bò, với tổng đàn bò trên 5.000 con, có 70% hộ dân đầu tư nuôi bò vỗ béo và đem lại kinh tế khá cho gia đình.

Kỹ thuật chăn nuôi bò thịt

Mục đích yêu cầu
– Phổ biến cho nông dân những kỹ thuật cơ bản về giống, chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh, để đạt hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi bò thịt.
– Yêu cầu: Ngắn gọn, dễ nhớ, dễ làm theo quy trình.

2. Đặc tính sinh vật học – tiêu hoá

– Bò là đại gia súc nhai lại.
– Thức ăn của bò chủ yếu là thức ăn thô xanh. Nếu ăn nhiều thức ăn tinh sẽ bị bệnh.
– Về sinh sản:
+ Đối với bò đực: Tuổi bắt đầu phối giống từ 24-26 tháng tuổi. Tuổi phối giống tốt nhất từ 2-6 năm.
+ Đối với bò cái: Tuổi bắt đầu phối giống từ 18-24 tháng tuổi. Có thể phối giống bằng thụ tinh nhân tạo hay cho con đực nhảy trực tiếp. Định mức một đực giống / 30-40 bò cái. Chu kỳ động dục là 21 ngày. Thời gian mang thai trung bình là 281 – 285 ngày (9 tháng 10 ngày). Thời gian động dục lại sau khi sinh là 60 – 70 ngày.
– Chọn giống chăn nuôi bò thịt chất lượng cao: Về ngoại hình chọn con có thân hình vạm vỡ, mình tròn, phía mông và vai phát triển, tổng thể nhìn vào bò có hình chữ nhật.
– Các giống chăn nuôi con lai: Nhóm Zebu x Bò vàng, F1HF, F2HF không sản xuất sữa, Shahiwal, Brahman trắng hoặc đỏ, Brouhuogber.
3 – Nuôi dưỡng chăm sóc vỗ béo theo giai đoạn

a) Nuôi bê từ 1 – 5 tháng tuổi.

– Từ sơ sinh đến 30 ngày tuổi, nuôi bê tại nhà cạnh mẹ, luôn giữ ấm tránh gió lùa, cho bê nằm chỗ khô sạch.
– Từ tháng thứ 2, tập cho bê ăn cỏ xanh phơi khô được nắng. Cỏ tươi rửa sạch để ráo, cho bê ăn thức ăn xanh và thức ăn tinh như khẩu phần đã định ở phần trên.
– Từ tháng thứ 4 trở đi tập cho bê ăn thêm thức ăn củ quả như : khoai lang, bí đỏ,..
– Trời nắng ấm tập cho bê vận động tự do dưới ánh nắng để bê có đủ Vitamin D3, tạo cho bộ xương cứng cáp.
– Thức ăn:
+ Thức ăn thô: 5 – 7kg cỏ/con/ngày.
+ Thức ăn tinh: 0,6 – 0,8 kg/con/ngày với 100 gam Protein tiêu hoá và 2.800Kcal/kg.
b) Nuôi bê từ 6 – 20 tháng tuổi (nuôi bê hậu bị vỗ béo)

6 tháng tuổi cai sữa cho bê.
– Phương thức nuôi nhốt: Cho bê ra sân vận động 2 – 4 giờ/ngày.
Cung cấp đầy đủ thức ăn xanh, thức ăn tinh hỗn hợp. Thường xuyên cung cấp đủ nước uống cho bê trong giai đoạn này.
– Phương thức chăn thả : Hiện còn khá nhiều địa phương trong tỉnh còn áp dụng phương thức này. Nhưng muốn nuôi bò thịt có hiệu quả kinh tế cao cần đầu tư thâm canh theo quy trình và chăn nuôi bò lai.
– Thức ăn:

+ Thức ăn thô xanh: 6 tháng tuổi: 10 kg /con/ngày; 7-12 tháng tuổi: 15kg/con/ngày; 13-20 tháng tuổi 30 kg/con/ngày.
+ Thức ăn tinh: 6 tháng tuổi 0,8 – 1 kg/con/ngày với 100 gam Protein tiêu hoá và 2.800Kcal/kg.
c) Nuôi vỗ béo bò từ 21 – 24 tháng tuổi

– Nuôi nhốt giảm vận động, tăng cường cho bò ăn các loại thức ăn giàu dinh dưỡng, cao năng lượng, cho bò tắm nắng 2 giờ/ngày, giảm nhiệt độ và cường độ ánh sáng chuồng nuôi.
– Những con có trọng lượng lớn, bị bệnh chân móng, cần sửa móng cho bò bằng các dụng cụ sắc như dao, đục và dụng cụ chuyên dùng khác.
– Thường xuyên tắm chải cho bò để kích thích bò ăn uống khoẻ. Mùa hè tắm 2 lần/ngày. Mùa đông chải khô 1 tuần 2 lần cho bò bằng bàn chải.
– Xuất bò: Khi bò đã béo đúng tiêu chuẩn, quan sát vùng võng (vùng lưng) đã béo bằng, nông dân ta thường gọi là “bò béo bằng lưng”, thì xuất bán.
– Thức ăn:
+ Thức ăn thô xanh: 30 kg/con/ngày (cỏ tươi hay khô, rơm được xử lý mềm hoá và tăng độ đạm).
+ Thức ăn tinh: 1,5 – 2,5 kg/con/ngày với Protein tiêu hoá 100 gam và 2.800 Kcal/kg thức ăn.
+ Nước uống: 50-60 lít/con/ngày. Có thể sử dụng muối ăn pha với nồng độ 9%.
4- Phòng và trị bệnh

– Tiêm phòng định kỳ hàng năm vào 2 đợt : 15/03 và 15/08, Vacxin tụ huyết trùng cho bò chăn nuôi trong vùng an toàn dịch của dự án.
– Vệ sinh phòng bệnh: Chuồng trại, máng ăn, máng uống môi trường xung quanh và cơ thể bò phải luôn sạch sẽ, cánh ly nguồn bệnh, mầm bệnh.
– Tẩy giun đũa cho bê định kỳ vào tháng thứ nhất, tháng thứ 3 và tháng thứ 9 bằng Piperazin 2 – 3g/10 kg trọng lượng. Cho uống hoặc tiêm 5 mg Levamisol/10 kg trọng lượng. Nếu bò ỉa chảy liên tục có mùi tanh khẳm, xù lông sáng sớm và chiều tối cần tẩy sán lá gan bằng cách tiêm bắp : Dovernix 1ml/15 kg trọng lượng, hoặc cho uống Dertil B1 liều lượng viên/ 50 kg trọng lượng.
– Định mức thuốc thú y: 10.000 đồng/con/năm.
5- Mức đầu tư – Mức công nhân.

– Một lao động nuôi được 20 con bò thịt trong nông hộ, lao động này phải làm các nội dung:

+ Trồng cỏ kết hợp chăm bón và cắt cỏ chuyển về chuồng.
+ Chăm sóc, nuôi dưỡng theo dõi bệnh tật.
+ Chế biến, dữ trữ và bảo quản thức ăn.
+ Cấp thức ăn tinh, nước uống theo định mức.
+ Công tác thú y thông thường: Tiêm phòng, vệ sinh môi trường định kỳ.
– Chăn nuôi trang trại: 3 nhân công và 1 người hợp đồng trang trại có thể nuôi 100 bò thịt 1 lứa.
– Định mức trồng cỏ: 2 sào/1 con bò thịt (500m2/sào), được đầu tư:
+ Phân chuồng: 400 – 500 kg/sào
+ Đạm, kali (5 kg urê và 1,5 kg kali/500m2/ 1 lần bón thúc và bón 11 lần/năm).
+ Giống cỏ : 3.000 kg/ha. Sử dụng giống cỏ voi lai, cỏ tây Nghệ An, ngô dày.
* Định mức xây dựng chuồng trại:

– Chuồng xây dựng theo kiểu thiết kế chuồng 1 dãy hoặc 2 dãy.
– Chuồng lợp lá hay ngói đỏ, tường kín phía Bắc, thoáng phía Nam, nền chuồng khô nước, lót nền mềm. Định mức 2,5 –3 m2 / con

1 Comment

Gửi phản hồi