Kỹ thuật nuôi heo nái sinh sản Hiệu Quả Cao Toàn Tập

kỹ thuật nuôi heo nái sinh sản
kỹ thuật nuôi heo nái sinh sản

Hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi heo nái giống sinh sản Hiệu Quả Cao Toàn Tập

PHẦN 1: CHỌN GIỐNG HEO

Nhóm heo ngoại nhập nội gồm các giống Yorkshire, Landrace, Duroc và Pietrain. Những giống heo nội chính gồm Móng Cái, Ba Xuyên và Thuộc Nhiêu.

Mời bãn em đoạn phim của đài TH Bình Dương về kỹ thuật nuôi heo nái để hiểu rõ hơn

Các giống heo nội có ưu điểm: dễ nuôi, chịu kham khổ tốt, khả năng chống bệnh cao. Tuy nhiên, các giống này có nhược điểm là chậm lớn, tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng trọng cao, tỷ lệ nạc thấp (36 – 43%). Hiện nay các giống heo nội chủ yếu làm nái nền để lai với heo đực giống ngoại sản xuất con lai nuôi thịt theo hướng nâng cao khả năng tăng trọng và tỷ lệ nạc. Giống heo nội chỉ được nuôi làm đực giống trong các cơ sở nhân giống thuần nhằm tạo ra các con giống thuần chủng.

Với giống heo ngoại thuần chủng và heo lai ngoại x ngoại (Pietrain x Duroc…) có ưu điểm là tầm vóc lớn: 250 – 400 kg/ con trưởng thành, lớn nhanh ( nuôi 5 – 6 tháng đạt 90 – 100 kg), tiêu tốn thức ăn thấp (2,8 – 3,0 kg TA/Kg tăng trọng), tỷ lệ nạc cao: 53 – 58%.Giống heo ngoại có khả năng thích nghi kém, đòi hỏi điều kiện về thức ăn và chăn nuôi có tỷ lệ đạm cao.

Với nhóm heo lại ngoại x nội (F1: Y x MC, L x MC…) có ưu điểm là tầm vóc lớn hơn, tăng trọng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn ít hơn, tỉ lệ nạc cao hơn so với các giống heo nội. Hiện nay nhóm heo này sử dụng làm nái nền để lai với đực giống ngoại sản xuất heo nuôi thịt F2   mà không sử dụng làm đực giống.

I. MỘT SỐ GIỐNG HEO PHỔ BIẾN 

1.1. Giống heo Landrace

– Nguồn gốc: Heo Landrace có nguồn gốc Đan Mạch được hình thành vào khoảng 1924 – 1925. Heo Landrace được tạo thành bởi quá trình lai tạo giữa giống heo Youtland (có nguồn gốc Đức) với heo Yorkshire (có nguồn từ Anh).

– Phân bố: Giống heo này chủ yếu được nuôi nhiều ở Đan Mạch. Sau 1990, heo được chọn lọc và có năng suất cao và được nuôi ở nhiều nước châu Âu.

– Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân có màu trắng tuyền, đầu nhỏ, dài, tai to dài rủ xuống kín mặt, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai – lưng – mông – đùi rất phát triển. Toàn thân có dáng hình thoi nhọn, đây là giống heo tiêu biểu cho hướng nạc.

– Khả năng sản xuất: Heo Landrace có khả năng sinh sản cao, mắn đẻ và đẻ nhiều. Trung bình đạt 1,8 – 2 lứa/năm. Mỗi lứa đẻ 10 – 12 con, trọng lượng sơ sinh trung bình đạt 1,2 – 1,3 kg, trọng lượng cai sữa từ 12 – 15 kg. Sức tiết sữa từ 5 – 9 kg/ngày. Khả năng sinh trưởng của heo rất tốt. Theo một số kết quả sản xuất ở Thái Lan và Công ty chăn nuôi CP Biên Hòa cho thấy heo Landrace có rất nhiều ưu điểm: Sinh sản tốt, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt. Heo có khả năng tăng trọng từ 750 – 800 g/ngày, 6 tháng tuổi heo thịt có thể đạt 105 – 125 kg. Khi trưởng thành con đực nặng tới 400 kg, con cái 280 – 300 kg.

– Hướng sử dụng: Heo Landrace được coi là giống heo tốt trên thế giới hiện nay và được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi. Giống heo này được nhập vào nước ta vào khoảng 1970 qua Cuba. Những năm sau 1990, heo Landrace được nhập vào ta qua nhiều con đường của nhà nước, công ty và từ nhiều dòng khác nhau như Landrace Pháp, Bỉ, Anh, Úc, Mỹ, Nhật…Mỗi dòng đều có những đặc điểm ngoại hình và sản xuất đặc trưng của nó. Giống heo Landrace được chọn một trong những giống tốt để thực hiện chương trình nạc hóa đàn heo ở Việt Nam.

1.2. Giống heo Yorkshire 

– Nguồn gốc xuất xứ và phân bố: Có nguồn gốc từ Yorkshire, Anh Quốc.

– Phân bố: Heo được phân bố chủ yếu ở Nga và một số nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ.

– Đặc điểm ngoại hình: So sánh đặc điểm ngoại hình của heo Yorkshire và Đại bạch thì không khác nhau lắm. Giống heo Yorkshire có tầm vóc to hơn. Toàn thân có màu trắng, lông dày và mềm, tai mỏng đứng thắng hoặc hơi hướng về phía trước, vai đầy đặn, ngực sâu rộng, lưng hông rộng và bằng, mình dài, xương sườn nở, bốn chân to khỏe, đùi to tròn, móng chân chắc chắn thích hợp với hướng chăn thả.

– Khả năng sản xuất: Yorkshire thành thục sớm, sinh trưởng nhanh. Trọng lượng sơ sinh đạt 1 – 1,2 kg; 2 tháng tuổi đạt 17 kg; 3 tháng tuổi đạt 26 kg; 4 tháng tuổi đạt 37 kg; 5 tháng tuổi đạt 51 kg; 6 tháng tuổi đạt 65 kg; 7 tháng tuổi đạt 79 kg; 8 tháng tuổi đạt 90 kg; 10 tháng tuổi đạt126 kg. Heo trưởng thành con đực cân nặng tới 450 kg, con cái nặng 280 – 350 kg. Yorkshire có khả năng sinh sản cao: trung bình đẻ 10 – 12 con/lứa, sức tiết sữa cao (60 – 80 kg). Tóm lại chúng có nhiều ưu điểm: tầm vóc lớn, thể chất khỏe, khả năng thích nghi cao, chịu kham khổ, thích hợp với hướng chăn thả, sinh trưởng phát dục nhanh, đẻ nhiều con.

– Hướng sử dụng: Ở nước ta heo Yorkshire,nhập vào từ năm 1964 từ Liên Xô. Giống heo này được nuôi khá phổ biến từ những năm 70 đến 80, sau đó chúng ta nhập các dòng heo Yorkshire từ các nước khác cũng có tầm vóc lớn.

1.3. Giống heo Duroc 

– Nguồn gốc xuất xứ: Có nguồn gốc miền Đông, nước Mỹ và vùng Corn Belt. Dòng Duroc được tạo ra ở vùng New York năm 1823, bởi Isaac Frink. Giống heo Duroc – Jersey có nguồn của hai dòng khác biệt Jersey Red của New Jersey và Duroc của New York. Còn dòng heo Jersey đỏ được tạo ra vào năm 1850 vùng New Jersey bởi Clark Pettit.

–  Phân bố: Chủ yếu được nuôi ở vùng New Jersey và vùng New York, nước Mỹ.

– Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân có màu hung đỏ (thường gọi heo bò), đầu to vừa phải, mõm dài, tai to và dài, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai – lưng – mông – đùi rất phát triển. Giống heo Duroc là giống heotiêu biểu cho hướng nạc, có tầm vóc trung bình so với các giống heo ngoại.

– Khả năng sản xuất: Heo Duroc có khả năng sinh sản tương đối cao. Trung bình đạt 1,7 – 1,8 lứa/năm. Mỗi lứa đẻ từ 9 đến 11 con, Pss heo con trung bình đạt 1,2 – 1,3 kg, Pcs 12 – 15 kg. Sức tiết sữa của heo đạt 5 – 8 kg/ngày. Khả năng sinh trưởng của heo tốt. Theo một số kết quả sản xuất ở Đài Loan và Thái Lan cho thấy heo Duroc có nhiều ưu điểm như tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt. Heo có khả năng tăng trọng từ 750 – 800 g/ngày, 6 – 19 tháng tuổi heo thịt có thể đạt 105 – 125 kg. Heo Duroc trưởng thành con đực nặng tới 370 kg, con cái 250 – 280 kg.

– Hướng sử dụng: Heo Duroc được coi là giống heo tốt trên thế giới hiện nay và được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt nuôi theo hướng nạc và sử dụng thịt nướng. Giống heo này đa được nhập vào nước ta vào khoảng 1956 ở miền Nam, sau đó đến 1975, heo được nhập vào nước ta qua nhiều chương trình và các công ty chăn nuôi. Giống heo Duroc được chọn một trong những giống tốt để thực hiện chương trình nạc hóa đàn heo ở Việt Nam. Tuy nhiên, nuôi heo Duroc cần có chế độ dinh dưỡng cao và chăm sóc tốt mới đạt được kết quả tốt.

1.4. Giống heo Pietrain

 – Nguồn gốc xuất xứ: Giống heo có nguồn từ một làng có tên Pietrain, thuộc Bỉ. Người ta không rõ giống này được tạo ra năm nào nhưng ước chừng vào khoảng 1950 – 1951. Giống heo này đa trở nên phổ biến ở Bỉ và sau đó xuất qua các nước khác, đặc biệt là CHLB Đức.

            –  Phân bố: Giống heo này chủ yếu nuôi ở Bỉ và Đức. Sau đó heo được nuôi khá nhiều nơi trên thế giới.

 –  Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân có màu trắng và có nhiều đốm màu xám trên và không ổn định, đầu nhỏ, dài, tai to hơi vểnh, cổ to và chắc chắn, mình dài, vai – lưng – mông – đùi rất phát triển. Toàn thân trông như hình trụ. Đây là giống heo tiêu biểu cho hướng nạc.

 –  Khả năng sản xuất: Heo có tầm vóc trung bình và khả năng sản xuất thịt nạc cao, nuôi tốt có thể đạt 66,7% nạc trong thân thịt. Trọng lượng sơ sinh 1,1 – 1,2 kg con, cai sữa 60 ngày đạt 15 – 17 kg/con, 6 tháng tuổi đạt 100 kg. Heo đực có nồng độ tinh trùng cao, 250 – 290 triệu/ml. Heo cái có khả năng sinh sản tương đối tốt, heo đẻ trung bình 9 – 11 con/lứa, năm đạt 1,7 – 1,8 lứa/năm.

 –  Hướng sử dụng: Heo Pietrain được coi là giống heo tốt và cao nạc trên thế giới hiện nay và được nuôi ở nhiều nước. Giống heo này được nhập vào nước ta vào khoảng 1993, hiện nay giống heo Pietrain được sử dụng để lai tạo với các giống heo khác tạo thành các tổ hợp lai có nhiều ưu điểm. Giống heo này được nhập vào nước ta qua nhiều chương trình và các công ty chăn nuôi khác nhau. Giống heo Pietrain được chọn một trong những giống tốt để thực hiện chương trình nạc hóa đàn heo ở Việt Nam.

II. Chọn heo nái làm giống

2.1. Dựa vào tổ tiên

Chọn heo cái giống từ những heo bố mẹ có tính đẻ sai, con đồng đều, to mập, khéo nuôi con, trọng lượng cai sữa cao, chu kỳ động dục đều và sớm động dục sau khi cai sữa.

2.2. Dựa vào sức sinh trưởng

 

Sau cai sữa đến 6 tháng những heo có tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn ít, khoẻ mạnh ưu tiên chọn làm heo cái giống

Heo nái được chọn để làm hậu bị, để thay đàn qua 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn chọn heo con sơ sinh (1 ngày tuổi) dựa trên thành tích sinh sản của heo mẹ, heo cha và ngoại hình, thể chất heo con.

– Trọng lượng sơ sinh trên 1,45kg, số vú trên 12 (mỗi hàng trên 6 vú)

– Ngoại hình thể chất đạt tiêu chuẩn về giống

+ Giai đoạn chọn heo lúc chuyển đàn 56 – 60 ngày tuổi

– Ngoại hình thể chất đạt tiêu chuẩn về giống

– Tăng trọng từ 56 -150 ngày trên 600g/ngày

– Độ dày mỡ lưng (qui về 100kg): 15 – 20 mm

+ Giai đoạn chọn heo ở 240 ngày tuổi

– Ngoại hình thể chất đạt tiêu chuẩn về giống

– Trọng lượng trên 120kg

– Có biểu hiện lên giống lần đầu

2.3. Dựa vào ngoại hình

Chọn giống heo nào thì heo cái phải có đặc điểm ngoại hình đặc trưng của giống. Cần chọn heo có ngoại hình, thể chất tốt, cụ thể như: Đòn dài, đùi to, mông to bụng thon, vai nở, ngực sâu, bộ khung xương vững chắc.

1. Đầu và cổ: Đầu to vừa phải, trán rộng, mắt lanh.

2. Vai và ngực: Vai nở đầy đặn. Ngực sâu, rộng. Đầu và vai liên kết tốt

3. Lưng sườn và bụng: Lưng dài vừa phải, ít võng. Sườn sâu, bụng tròn, không xệ (heo ngoại). Lưng và bụng kết hợp chắc chắn

4. Mông và đùi sau: mông dài vừa phải, rộng. Đùi sau đầy đặn, ít nhăn. Mông và đùi sau kết hợp tốt. Khấu đuôi to, luôn ve vẩy

5.Bốn chân: Bốn chân chắc chắn. Khoảng cách giữa 2 chân trước và 2 chân sau rộng vừa phải. Móng không toè. Đi đứng tự nhiên, không đi bàn

6. Móng chân: Móng chân thẳng

7. Vú và bộ phận sinh dục: Có 12 vú trở lên. Khoảng cách giữa hai hàng vú gần nhau

8. Khoảng cách giữa các núm vú: Vú có khoảng cách đều, không có vú kẹ (vú đĩa). Các núm vú nổi rõ và cách đều nhau. Khoảng cách giữa 2 hàng vú đều, không quá xa hay quá gần

9. Âm hộ: Âm hộ không bị khuyết tật

Ngoài ra, chững heo nái có thành tích sinh sản ở lứa đẻ 1,2 như sau: số heo con sơ sinh còn sống trên ổ 8-10 con; trọng lượng sơ sinh 1,3-1,5kg/con, rất ít heo con nhỏ vóc dưới 0,8kg; trọng lượng cai sữa bình quân 5-8kg (tùy theo cai sữa 21 ngày hay 28 ngày tuổi), số heo con cai sữa 8-9 con/ổ; heo nái giảm trọng khi cai sữa 8-10% so với thể trọng khi đẻ ra 3 ngày; số ngày chờ phối giống ở lứa đẻ kế tiếp từ 5-7 ngày; số heo con ở lứa đẻ sau có thể cao hơn lứa đầu 10-15%… là những heo nái tốt thường được ưu tiên chọn lựa.

Phần 2:

XÂY DỰNG CHUỒNG TRẠI NUÔI HEO NÁI

1. Vị trí chuồng heo nái

Cao ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, thoát nước tốt, xa khu dân cư, trường học, chợ, thuận tiện giao thông, chủ động nguồn nước.

2. Hướng chuồng heo nái

Mặt trước quay theo hướng Đông Nam (trục chuồng Đông Bắc – Tây Nam) hoặc hướng Nam (trục chuồng Đông Tây). Nếu không thể theo 2 hướng trên thì chuồng phải có tấm rèm để che nắng, che mưa.

Sân chơi hướng Đông thì nái nuôi con và nái chửa tận dụng ánh nắng buổi sáng tạo vitamin D3 giúp heo sinh trưởng, đồng hoá Ca, P tốt. Nắng buổi chiều dễ làm heo mệt mỏi, thở nhiều, bị bệnh mềm xương, con đẻ ra chân yếu vì nắng buổi chiều chứa nhiều tia tử ngoại.

Khoảng cách giữa các chuồng phải đảm bảo thông thoáng, vừa để có đủ ánh sáng chiếu vào vừa giúp cho điều hoà nhiệt độ chuồng nuôi.

3. Kết cấu chuồng và trang thiết bị trong chuồng nuôi heo nái

3.1. Nền chuồng:

Phải được đầm nén kỹ và cao hơn mặt đất khoảng 30-45cm, có độ dốc phù hợp (3%) để tránh ẩm ướt, ngập úng. Nền nên láng bằng xi măng để dễ vệ sinh, nền chuồng nhanh khô, nhưng phải tạo độ nhám để tránh trơn trượt cho heo.

Trong khi sử dụng nếu nền chuồng chỗ nào hư hỏng thì phải sửa ngay không để lâu ngày vì không an toàn cho heo và khó sửa chửa cho sau này.

– Nền xi măng: thường dùng xỉ than trộn với đất sét rồi đầm chặt, sau đó phủ lên một lớp hồ khô (xi măng trộn với cát nhưng không trộn nước) rồi tiếp tục dầm chặt. Tiếp đó đổ lên một lớp vữa ướt dày khoảng 3cm. Cuối cùng rắc lên một ít xi măng mỏng rồi dùng bàn xoa gỗ tạo mặt phẳng

Kiểu nền này chi phí thấp, thi công dễ dàng. Tuy nhiên kiểu nền này dễ bị ngấm nước và heo ủi phá gây hư hỏng. Khi nền hư hỏng rất khó sửa chửa nên phải đập bỏ làm mới.

– Nền bê tông: là loại nền chắc chắn nhưng đầu tư khá nhiều tiền. Nền bê tông được kết cấu bởi nhiều lớp:

Lớp đất nện: ở dưới cùng,có độ dốc 1 – 3% để làm mặt thoát nước. Lớp đá xanh kích thước đá 4 x 6 cm, dày khoảng 10-15cm được đầm chặt. Lớp đá xanh kích thước 3 x 4 cm, dày khoảng 7-10cm, đầm chặt rồi đổ vữa khô lấp kín các lỗ hổng của đá. Nếu không dùng vữa khô thì có thể dùng cát lấp các lỗ hổng rồi đầm chặt, cũng có thể phun nước cho cát trôi vào các khe hở của viên đá.

Lớp trên cùng: là hỗn hợp bê tông gồm: Đá xanh kích thước 1 x 2cm hoặc 3 x

4cm, vữa xi măng tỷ lệ 1 xi măng 2 cát, lớp hỗn hợp bê tông này dày khoảng 3-

5cm.

Độ dày của lớp bê tông tuỳ thuộc vào độ tuổi và từng loại heo khác nhau để

cho việc đầu tư bớt tốn kém. Đối với heo cái sinh sản thì độ dày lớp bê tông khoảng

5cm, heo con sau cai sữa khoảng 3cm và heo thịt khoảng 4 cm.

– Nền sàn bằng nhựa: Đối với những trại chăn nuôi heo có quy mô lớn, heo nái nuôi con và heo con trong thời gian theo mẹ được nuôi trên nền sàn bằng nhựa. Loại nền sàn này có ưu điểm là sạch sẽ khô ráo, ấm áp và độ bền tốt nhưng giá thành khá đắt.

3.2. Tường

Tường là bộ phận cơ cấu nên chuồng trại nuôi heo, có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi. Khi xây dựng cần chú ý:

– Móng tường: Trước khi xây tường phải xử lý móng chu đáo, móng vững thì tường mới bền. Nếu đất làm chuồng yếu thì móng phải dày, chắc để tránh sụt nứt. Móng có đá hoặc tận dụng gạch vỡ để xây sẽ làm giảm chi phí trong xây dựng chuồng nuôi.

– Thân tường: thân tường chuồng heo phải kiên cố vì những heo nái khi hưng phấn sinh dục sẽ phá phách rất dữ dội. Tường đảm bảo độ cao phù hợp với từng loại heo để heo không nhảy ra ngoài được, không quá cao vì sẽ gây khó khăn cho người chăn nuôi khi muốn can thiệp trong chuồng.

Tường chuồng nên có những lỗ thông thoáng. Nếu chuồng ở đầu hồi thì tường phải xây kín, còn tường ngăn phía trong chuồng xây lửng để tăng thông thoáng, tường thường được xây bằng gạch ống và xi măng.

3.3. Hành lang và cửa chuồng nuôi heo nái

– Cửa chuồng nuôi: cửa chuồng heo có chiều rộng khoảng 60cm, cao bằng tường vách. Cửa cao hơn mặt nền 1-2cm để dễ thoát nước từ hành lang chăm sóc, nhưng không cao hơn vì heo có thể dúi mõm vào đáy cửa để hất, gặm phá cửa.

Vật liệu làm cửa có thể bằng gỗ ván, sắt hay song sắt. Mỗi loại vật liệu đều có ưu điểm và hạn chế, vì vậy tuỳ điều kiện thực tế mà người chăn nuôi chọn loại vật liệu làm cửa.

Bản lề cửa bắt ăn sâu vào góc 2 tường, sức chịu lực tốt hơn gắn vào tường đơn. Hướng cửa mở vào trong heo khó ủi phá cửa, tránh hỏng chốt gài cửa, tránh nguy hiểm cho người khi đóng mở cửa.

Chốt gài cửa bố trí bên ngoài. Không nên bố trí bất kỳ chướng ngại vật gì ngoài cửa chuồng (như rãnh đường mương sâu hoặc máng ăn) sẽ làm cho heo sợ hãi khó lùa qua cửa chuồng.

– Hành lang: là lối đi dành cho người chăn nuôi đi lại cho ăn và chăm sóc heo. Hành lang cũng là đường vận chuyển heo từ ô chuồng này đến ô chuồng khác, hoặc chuyển heo đi cân xuất bán. Khi xây dựng cần phải đáp ứng những yêu cầu:           Rộng khoảng 1,2m; có độ dốc để nước không đọng, đảm bảo độ ma sát tránh trơn trợt, hướng thoát nước về phía cuối chuồng.

3.4. Mái chuồng:

Có thể làm bằng nhiều loại vật liệu khác nhau. Mái chuồng ngoài tác dụng che mưa nắng còn có tác dụng điều hoà nhiệt độ trong chuồng nuôi thông qua các vật liệu làm mái khác nhau. Mái chuồng cao vừa phải để đảm bảo thông thoáng và tránh mưa tạt vào.

– Mái lá: dùng phổ biến ở vùng nông thôn, trong những quy mô chăn nuôi nhỏ. Có thể dùng lá cọ hay lá dừa làm mái chuồng. Mái lá rất nhẹ nên không đòi hỏi phải xây chuồng trại chắc chắn. Chuồng lợp mái lá rất mát vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông, tuy nhiên mái lá rất mau mục nát gây dột nước vì vậy tuổi thọ mái lá không cao; thông thường khoảng 1-3 năm phải thay mới.

– Mái tôn: mái có độ bền cao, thời gian sử dụng dài, giá thành cao hơn mái lá. Mái tôn dễ hấp thu nhiệt nên vào mùa hè chuồng heo rất nóng, vào mùa đông lại rất lạnh. Vì vậy nếu làm mái tôn cần phải làm cao và thông thoáng và phải có biện pháp chống nóng vào mùa hè cho heo.

– Mái Phi – brô xi măng: thường sử dụng rộng rãi trong xây dựng chuồng do giá thành rẻ hơn mái tôn, nhưng do chất liệu tạo mái là xi măng nên rất nặng, vì vậy chuồng cần xây dựng chắc chắn, dễ ngấm nước gây gãy mục, ngoài ra mái này cũng hấp thu nhiệt lớn như mái tôn nên cần có biện pháp chống nóng cho heo vào mùa hè.

Các kiểu mái chuồng: Mái chuồng heo có thể xây dựng kiểu 1 mái, kiểu mái lỡ hay 2 mái đơn, 2 mái đôi (trại chăn nuôi quy mô lớn).

– Kiểu một mái: thoáng khí, mát nhưng dễ bị mưa tạt, gió lùa, nắng dọi vào chuồng.

– Kiểu mái lỡ: thoáng, mát, hạn chế mưa tạt, gió lùa nhưng tốn thêm chi phí lợp mái lỡ.

– Kiểu 2 mái đơn: tiết kiệm được diện tích so với chuồng mái lỡ, nhưng hơi nóng và ẩm độ trong chuồng khó thoát ra khỏi 2 mái, có thể bố trí thêm quạt hút.

3.5. Máng ăn và máng uống

+ Máng ăn: có nhiều loại tuỳ theo kiểu chuồng và độ tuổi của heo

– Máng đúc cố định vào chuồng: thức ăn dư thừa khó cọ rữa, vệ sinh.

– Máng tự động bằng inox hay bằng gang, thường đặt trên mặt nền chuồng nên luôn khô ráo, sạch, độ bền cao; giá thành cao.

+ Máng uống: hiện nay dùng hệ thống cung cấp nước là núm uống tự động. nước được dẫn từ bể cao áp đến bể điều áp nên kiểm tra được vệ sinh nguồn nước. Chi phí đầu tư ban đầu khá cao.

3.6. Bể chứa nước: Trung bình nhu cầu nước cho tắm rửa, ăn uống một heo khoảng 50 lít nước/con/ngày. Lượng nước này tăng vào mùa nóng và giảm vào ngày mưa dầm. Vì vậy dự trù số lượng heo nuôi mà xây bể chứa. Để giảm chi phí nên xây thành nhiều bể, các bể thông nhau bằng các van. Các bể xây nổi trên mặt đất, có lỗ thoát nước để dễ cọ rữa và loại bỏ rác, cặn bã phù sa. Bể có nắp đậy bên trên tránh tạp chất rơi vào.

3.7. Diện tích chuồng nuôi: Phù hợp với từng giai đoạn sản xuất và độ tuổi của heo

Bảng 2.2. Mật độ heo nuôi

Giai đoạn Số con nuôi/chuồng (con) Diện tích (m2/con)
Chuồng nền Chuồng sàn
Heo hậu bịHeo nái nuôi con và heo con

Heo nái khô, chửa

Heo sau cai sữa

 

1

2-3 hoặc 1

<20

1 – 26 – 8

2 – 3

0,5 – 0,8

0,5 – 0,83,96 – 4,32

1,32 – 1,5

0,2 – 0,4

 

Mùa hè nắng nóng thì mật độ nuôi thưa hơn mùa mưa lạnh. Đối với chuồng heo nái, có thể ngăn thành ô úm hoặc lồng úm riêng để có điều kiện sưởi ấm cho heo con trong giai đoạn đầu sau khi sinh.

2. Các loại chuồng nuôi heo sinh sản

2.1. Chuồng nuôi heo cái hậu bị

Heo hậu bị có thể được nuôi trong chuồng nền hoặc chuồng sàn với hệ thống thông gió tự nhiên. Tuy nhiên vẫn phải lưu ý đến những yêu cầu về tiểu khí hậu chuồng nuôi, mật độ nhốt và diện tích nuôi cho 1 con.

2.2. Chuồng nuôi nái chờ phối sau cai sữa con và nái mang thai

Chuồng thường được xây thành 2 dãy đối diện với hành lang ở giữa dùng để cho ăn, chăm sóc. Máng ăn ở phía trước chuồng, máng uống ở phía sau nếu là chuồng nuôi chung nhiều heo hoặc máng uống ở phía trước nếu là chuồng cá thể.

Heo nái được nhốt ở chuồng cá thể hay nhốt chung 2-3 heo nái trong một chuồng. Khuynh hướng hiện nay là nhốt ở chuồng cá thể để dễ theo dõi và giảm stress cho heo.

2.3. Chuồng nái nuôi con

Chuồng nái nuôi con hiện nay thường dùng chuồng lồng. Chuồng gồm 3 ngăn:

ngăn giữa dành cho heo mẹ và 2 ngăn ở hai bên dành cho heo con.

Tổng diện tích chuồng khoảng 3,96 – 4,32 m2; kích thước 2,2 – 2,4m x 1,8m chiều rộng (0,6m ở giữa cho heo mẹ và 0,8 và 0,4m mỗi bên cho heo con). Chiều cao của ngăn heo mẹ là 0,9 – 1m, chiều cao của ngăn heo con là 0,5 – 0,6m.

Máng ăn đặt cao hơn sàn chuồng 0,25m. Heo con qua lại tự do bú mẹ mà không sợ bị mẹ đè nhờ các thanh sắt đặt cách sàn chuồng 0,25 – 0,3m.

Thời gian heo nái đẻ trong chuồng lồng biến động theo quy cách quản lý và tận dụng chuồng của từng trại. Đa số các trại đều nuôi heo mẹ và heo con trong lồng cho đến khi cai sữa heo con.

2.4. Chuồng heo cai sữa

– Chuồng nền bằng bê tông: heo dễ bị lạnh do nền chuồng ẩm ướtnên heo dễ

bệnh tiêu chảy, viêmphổi,…

– Chuồng sàn hở 1 phần: sàn cách mặt đất 0,6m;  heo ngủ và ăn ở phần sàn liền, phần sàn hở có núm uống và là nơi tiêu tiểu.

3. Hệ thống xử lý chất thải

Chất thải được thu gom và xử lý đúng cách để có được lượng lớn phân bón cho trồng trọt, đồng thời không gây hôi, không làm ô nhiễm đất và nước xung quanh trại. Hệ thống thu gom và xử lý chất thải (phân, nước rửa chuồng, nước tắm heo) gồm có đường mương, nhà ủ phân và các bể lắng gạn, hầm phân huỷ và túi sinh học.

3.1. Đường mương

Đường mương có độ dố 1 – 1,5% và được xây bằng bêtông chắc chắn. Bề rộng thay đổi tuỳ theo lưu lượng nước thải, biến động khoảng 0,2 – 0,5m.

3.2. Nhà ủ phân và bể lắng phân

– Nhà ủ phân phải có nóc, tường che và đường mương xung quanhđể dẫn nước dơ về bể lắng phân. Đây là môi trường tốt cho ruồi sinh sản (nhất là khi phân bị ướt), vì vậy nên giữ phân khô, phủ đống phân bằng tấm nylon đen để tạo nguồn nhiệt làm phân mau hoai đồng thời giết được trứng ruồi hay vi sinh vật gây bệnh.

– Bể lắng phân: đường kính tuỳ thuộc vào khối lượng nước, phân chảy tới và khí hậu

Lượng phân hàng ngày có thể được ước tính theo cách đơn giản sau: 1m3 phân/50 nái và heo con; 1m3  phân/75 – 85 nái hậu bị, nái khô chờ phối; 1m3 phân/220 – 260 heo sau cai sữa

3.3. Hầm phân huỷ và túi sinh học

Các trang thiết bị này giúp xử lý chất thải, giảm mùi hôi đồng thời tạo khí mêtan dùng sinh nhiệt nấu nướng, chạy máy phát điện. Trong chăn nuôi gia đình (<50 heo) có thể sử dụng túi sinh học bằng plastic, trại quy mô lớn hơn xây dựng hầm phân huỷ bằng bê tông.

Kỹ thuật chăn nuôi heo nái giống

PHẦN 3: NUÔI HEO HẬU BỊ

Heo cái hậu bị là heo cái từ sau khi cai sữa được chọn để làm cái giống, nuôi cho đến khi phối giống lần đầu.

Chọn heo cái hậu bị là một trong những bước quan trọng để nâng cao năng suất sinh sản của đàn heo nái. Con giống tốt thì mới có năng suất cao, vì vậy việc chọn cái hậu bị tiến hành từ lúc cai sữa heo và qua từng giai đoạn (mỗi 30 ngày) sẽ tiếp tục chọn cho đến khi phối giống.

2.1. Chọn lọc

Chọn heo cái hậu bị thông qua việc kiểm tra cá thể heo cái hậu bị. việc kiểm tra được thực hiện trong giai đoạn từ 3 đến 8 tháng tuổi (heo nội) và 10 tháng tuổi (heo ngoại)

Những con cái trước khi đưa vào kiểm tra phải có lý lịch rõ ràng, bố mẹ phải có thành tích sinh sản cao (số con/lứa, trọng lượng cai sữa, số con cai sữa…)

Ngoại hình phải đạt tiêu chuẩn giống.

Sinh trưởng, phát dục và thành tích sinh sản nổi bật trong đàn.

2.2. Nuôi dưỡng

Nuôi dưỡng heo cái hậu bị sao cho khi đến tuổi phối giống trọng lượng phải đạt yêu cầu. Heo quá gầy, quá béo đều dẫn đến sức sinh sản kém, heo quá béo sẽ khó động dục. Vì vậy khẩu phần ăn cho heo cần phù hợp theo từng tháng tuổi.

Trước  khi  phối  10  –  14  ngày  tăng  lượng  thức  ăn  lên  khoảng 2,7  –  3,0 kg/con/ngày để tăng số trứng rụng.

– Giai đoạn từ 15 – 60 kg sử dụng khẩu phần thức ăn hỗn hợp chứa 18% protein thô và năng lượng (ME) là 3000 Kcal/kg thức ăn.

– Giai đoạn từ 61-70kg sử dụng khẩu phần thức ăn hỗn hợp chứa 15-16% protein thô và năng lượng (ME) là 2900-3000 Kcal/kg thức ăn.

– Giai đoạn từ 70kg trở lên, sử dụng khẩu phần thức ăn hỗn hợp chứa 14% protein thô và năng lượng (ME) là 2900 Kcal /kg thức ăn

Chế độ cho ăn:

– Từ 20 – 30 kg: cho ăn 4 bữa/ ngày

– Từ 31 – 65 kg: cho ăn 3 bữa/ ngày

– Từ 66 kg – phối giống: cho ăn 2 bữa/ ngày

– Nước uống: tự do

2.3. Chăm sóc

– Chuồng nuôi hậu bị có sân chơi hứng được ánh nắng mặt trời buổi sáng, giúp tổng hợp vitamin D chuyển hoá canxi và photpho. Sân chơi giúp heo vận động cho khung xương vững chắc.

– Vận động: có tác dụng làm cho heo khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, tăng cường trao đổi chất, chân to, cứng cáp, bụng thon, hoạt động tính dục tốt. Cho vận động 1 lần/ngày lúc thời tiết mát mẻ và cho vận động tự do ở sân chơi.

 

– Tắm chải có tác dụng hạn chế bệnh ngoài da: rận, ghẻ, không bị rụng lông, mốc da, tăng quá trình bài tiết trao đổi chất, tăng tính thèm ăn. Tắm cho heo 1-2 lần/ngày bằng nước sạch, những ngày rét thì chải khô.

– Xoa luyện bầu vú: thúc đẩy sự phát dục của bầu vú và cơ quan sinh dục, kích thích tuyến yên tiết hormon sinh dục, kích thích heo nái động dục. Xoa bóp nông và xoa bóp sâu, tiến hành 10 phút/ ngày sau bữa ăn sáng.

– Vệ sinh chuồng trại: Hàng ngày vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi heo, máng ăn, máng uống, nền chuồng, sân chơi. Tẩy uế chuồng trại 1 lần/tuần, thông cống rãnh thoát nước, rắc vôi bột để diệt vi khuẩn.

2.4. Phối giống

Xác định thời gian thích hợp để phối cho heo cái hậu bị rất quan trọng. Phối quá sớm hay quá muộn đều ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của heo cái.

Tuổi thành thục: là tuổi mà heo có đầy đủ biểu hiện về động dục, nếu được phối giống thì sẽ thụ thai và đẻ con. Heo thành thục về tính có biểu hiện:

– Giai đoạn 1: Heo thay đổi tính tình, kém ăn hoặc bỏ ăn, kêu rít, phá chuồng, âm hộ sưng mọng đỏ tươi, sờ vào lưng chưa chịu đứng im. Heo nái rạ khi động dục âm hộ có thể không sưng, chỉ có ửng hồng và cũng có nước nhờn trong.

– Giai đoạn 2: Heo mê ì, lấy tay ấn lên lưng, hông heo đứng yên, âm hộ giảm sưng có nếp nhăn, màu sẫm hay màu mận chín, có nước nhờn chảy dính đục, giai đoạn này phối giống đạt kết quả tốt.

– Giai đoạn 3: Các triệu chứng trên giảm dần. Heo hết chịu đực, đuôi cụp không cho đực phối và ăn uống trở lại bình thường.

Thời gian thành thục về tính thường sớm hơn thời gian thành thục về thể vóc. Khi thành thục về tính lần đầu, trọng lượng heo nhỏ: heo cái Móng Cái khoảng 45 –

50kg/con, heo nội lai khoảng 60 – 65kg/con, heo ngoại khoảng 80 – 100kg/con. Vì vậy cần bỏ qua 1 – 2 lần động dục đầu, phối ở lần sau khi heo đã thành thục về thể vóc.

Thời gian động dục lần đầu thay đổi tuỳ theo giống: các giống heo lai và heo ngoại thành thục trễ hơn: heo lai 100 -120 ngày tuổi, heo ngoại 200 ngày tuổi, heo nội 90 ngày tuổi. Trong giai đoạn nuôi hậu bị nếu chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp, ít bệnh, heo tăng trưởng tốt sẽ thành thục sớm hơn.

+ Thời gian phối giống thích hợp cho heo cái

– Thời gian phối lần đầu cho heo cái thích hợp nhất là khi heo đã thành thục về tính và thể vóc.

– Heo cái gần đạt đến trọng lượng phối giống, nên di chuyển đến nuôi gần chuồng heo đực để kích thích heo động dục.

– Khi heo cái đạt tuổi và tầm vóc phù hợp, căn cứ vào chu kỳ động dục và thời gian rụng trứng để xác định thời điểm phối giống thích hợp. Thời gian rụng trứng của heo cái bắt đầu vào 16 giờ sau động dục và có thể kéo dài đến 20 giờ.

Xác định thời điểm heo bắt đầu động dục dựa vào những đặc điểm sau: Khi thấy heo chịu đứng yên khi ấn tay lên lưng, đuôi cong lên cho phối, âm hộ có nếp nhăn màu sẫm hay màu mận chín, có nước nhờn chảy dính đục là cuối ngày thứ 2 kể từ khi heo bắt đầu có biểu hiện động dục. Thời điểm heo có những biểu hiện như trên gọi là thời điểm “heo mê ì” hay “ heo chịu đực”.

Đối với heo hậu bị: phối lần đầu khi heo “mê ì” (có những biểu hiện trên) và 12 giờ sau phối lại 1 lần nữa để tăng tỷ lệ đậu thai.

Đối với heo nái đã đẻ 1 lứa: phối lần đầu vào lúc sau 12 giờ “ mê ì” và sau đó 12 giờ phối lại 1 lần nữa.

+ Kỹ thuật phối

– Phối vào buổi sáng sớm, lúc mát mẻ, yên tĩnh, thao tác đúng kỹ thuật (nếu gieo tinh nhân tạo)

– Phối 2 lần để nâng tỷ lệ thụ thai.

– Sau khi phối xong phải ghi chép đầy đủ.

2.5. Kích thích nái động dục

Khi heo cái được 5,5 – 6 tháng tuổi, mỗi ngày cho heo đực giống đi qua khu chuồng heo cái hậu bị 2 lần, 10 – 15 phút/ lần.

PHẦN 4: NUÔI HEO MANG THAI VÀ SINH SẢN

1. Heo nái chửa

1.1. Nhận biết heo nái chửa

Nhận biết heo nái chữa giúp người chăn nuôi có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp đảm bảo thai phát triển bình thường và heo mẹ khoẻ, tránh tình trạng bệnh lý cho cả mẹ lẫn bào thai.

Phát hiện nái sinh sản có bệnh hay không để loại thải kịp thời, giảm chi phí chăn nuôi.

Phương pháp nhận biết nái mang thai: Trước khi tiến hành chẩn đoán nái có thai hay không cần nắm rõ một số thông tin sau:

– Thời gian phối giống cho heo lần cuối cùng, số lần phối.

– Sau khi phối giống heo có động dục lại không.

– Heo có bệnh về đường sinh dục không.

– Tình hình nuôi dưỡng heo nái.

Cách nhận biết heo chửa

– Nhìn bên ngoài: nái có thai thường xuất hiện trạng thái phù thũng ở tứ chi, thành bụng. Tuyến vú phát triển to lên, bè ra. Heo yên tĩnh ăn uống tốt và ngủ ngon, bụng phát triển to lên.  Heo không có biểu hiện động dục lại sau 21 ngày kể từ lúc phối.

1.2. Nuôi dưỡng nái chửa

Heo nái đẻ sai con, heo con có khối lượng sơ sinh cao, dự trữ đủ sữa cho con bú, cơ thể mẹ không bị hao mòn lớn, sớm động dục trở lại, tăng số lứa đẻ trên năm.

Chế độ cho ăn:

– Chửa kỳ I (từ khi phối đến mang thai 90 ngày): lượng thức ăn cho ăn 1,8-2 kg/ngày

– Chửa kỳ II (mang thai 91 ngày – 110 ngày): lượng thức ăn cho ăn 2,2-2,4 kg/ngày

– Trước khi sanh 3-5 ngày: lượng thức ăn cho ăn 1,0 – 1,5 kg/ngày để phòng viêm vú cho nái sau khi sanh và tránh chèn ép thai.

– Cho ăn hỗn hợp trước, rau xanh bổ sung sau.

– Cho ăn đúng giờ để kích thích tính thèm ăn.

– Không cho ăn thức ăn ôi mốc, hư hỏng.

– Khi thay đổi thức ăn phải thay đổi từ từ.

1.3. Chăm sóc nái chửa

Chế độ vận động

– Giai đoạn chửa kỳ I: hàng ngày thả heo ra sân đi dạo ngày 2 lần, mỗi lần 1 – 2giờ vào sáng sớm và chiều mát.

– Giai đoạn chửa kỳ II: mỗi ngày thả heo ra sân đi dạo 1 lần vào sáng sớm hoặc chiều mát

– Trước khi sanh 2 – 3 ngày: cho heo ngưng vận động.

– Không rượt đuổi heo vượt tường từ chuồng này sang chuồng khác.

2. Heo nái sanh

2.1. Nhận biết heo nái sắp sanh

Căn cứ vào ngày phối giống có chửa để dự tính ngày đẻ dự kiến.

Những biểu hiện của heo nái sắp sanh:

– Heo nái sắp sanh thường đi lại nhiều, bồn chồn

– Đái dắt (tiểu mót), đi phân lắt nhắt nhiều chỗ

– Cào ổ: cào chân vào nền chuồng, cắn song chuồng hay máng ăn

– Âm hộ nở to

– Tiết dịch nhờn màu hồng

Bảng 2.1. Biểu hiện của heo nái sắp sanh

Trước khi sanh Biểu hiện
0 – 10 ngày Tuyến vú to lên, rắn chắc, hai môi âm hộ sưng
2 ngày Tuyến vú cương, căng, tiết dịch trong
12- 24 giờ Bầu vú căng, tĩnh mạch vú nổi rõ, tuyến vú bắt đầu tiết sữa;heo không yên tĩnh, cắn ổ
6 giờ Tiết nhiều sữa, dùng tay vắt được sữa ở vú sau
30  phút  –  4 giờ Tần số hô hấp tăng
15 -60 phút Nằm nghiêng và nằm yên, có biểu hiện căng thẳng, ra máu hồng, dịch nhầy và phân bào thai (phân xu) chảy ra dính ở âm hộ, 2 bên mông nái và nền chuồng

2.2. Chăm sóc heo nái sắp sanh, trong khi sanh và sau khi sanh

2.2.1. Chăm sóc heo nái sắp sanh

– Công việc chuẩn bị trước khi heo nái sanh

– 3 – 6 tuần trước khi sanh: ngừa giả dại; thương hàn; phòng bệnh tiêu chảy phân trắng do E,Coli bằng vaccine Neocolipor (của Rhone)…

– 2 tuần trước khi sanh: xổ lãi, diệt ký sinh trùng ngoài da để tránh lây ghẻ và nhiễm giun sán cho heo con theo mẹ ngay từ những ngày đầu sau khi mới sinh ra, vệ sinh sát trùng chuồng trại.

– Trước khi đưa heo nái vào chuồng sanh: tẩy uế sạch sẽ, khử trùng toàn bộ nền chuồng, ô chuồng, sàn chuồng, thành chuồng nái sanh bằng nước vôi (pha loãng 20%) hay chất khử trùng và được để trống chuồng tối thiểu 7 ngày trước khi chuyển heo nái vào.

 

– Khoảng 5 – 7 ngày trước khi sanh: tắm rửa nái sạch sẽ bằng xà phòng rồi chuyển vào chuồng sanh, chuyển cho nái ăn thức ăn dành cho heo nái nuôi con nhằm giúp heo nái quen với chuồng nái sanh và thức ăn dành cho nái nuôi con.

– Cần xoa bóp bầu vú cho heo nái trước khi sanh một tuần.

– 3 – 5 ngày (tùy thể trạng) trước khi heo sanh giảm khẩu phần thức ăn xuống còn 1,0 – 1,5 kg/con/ngày. Ngày heo sanh có thể không cho ăn để tránh sốt sữa nhưng phải cung cấp đầy đủ nước sạch cho uống.

– Tắm cho heo nái trước khi sanh, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ nhằm tránh nguy cơ heo con sơ sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc với heo mẹ.

+ Chuẩn bị ổ úm cho heo con

– Dùng 1 cái thùng, thúng hay bội để làm ổ úm cho heo con, kích thước khoảng 1,2 x 1,5 m (chuồng nền truyền thống)

– Sàn được lót bằng rơm hoặc cỏ khô sạch, bao bố, vải vụn… treo bóng đèn điện  (cách  sàn  0,3m)  để  cung  cấp  nhiệt.  Bóng  đèn  có  thể  là  bóng  điện 100W, tốt hơn có thể mua bóng đèn hồng ngoại công suất 250W (ngoài tác dụng sưởi ấm, bóng đèn hồng ngoại còn có tác dụng diệt khuẩn trong ô chuồng heo con).

– Vách : dùng màn che xung quanh

Chuẩn bị dụng cụ và thuốc thú y

– Dụng cụ: Kéo, pince, kiềm bấm răng, bấm đuôi, chỉ nylon dùng cột rốn, đèn úm, khăn lau bằng vải xô mềm và sạch để lau cho heo con, đèn pin, cân, bóng đèn điện để sưởi hoặc lò sưởi…

– Thuốc thú y: cồn iod 2%, xanh methylen, oxytocin, cồn 700, thuốc trợ sức, thuốc cầm máu, thuốc tím,…

2.2.2. Chăm sóc heo nái trong khi sanh

* Can thiệp một ca nái đẻ bình thường

Phải túc trực ở bên heo nái là cần thiết để có thể hỗ trợ cho heo trong nhiều trường hợp bất thường khi thấy có các dấu hiệu chuyển dạ đẻ như vú căng và sữa bắn thành tia đã hơn 2 giờ, heo đã nằm xuống chứ không còn đứng lên nằm xuống liên tục, âm hộ ra phân xu và dịch màu hồng, heo nái rặn từng cơn là heo con sắp ra.

Điều cần chú ý trong giai đoạn này là chỉ can thiệp khi cần thiết, để cho heo được đẻ tự nhiên càng thoải mái càng tốt. Heo nái tơ thường đẻ khó hơn heo nái rạ.

Bình thường cứ sau mỗi cơn rặn mạnh, heo nái co chân sau lên là heo con được mẹ rặn đẩy ra ngoài.

Thường mỗi heo con đẻ ra cách khoảng 15-20 phút, mỗi ổ heo đẻ hoàn tất khoảng 2 – 5 giờ và ra nhau khoảng 2 – 3 giờ sau khi đẻ con cuối cùng (hoặc cũng có nái vừa đẻ vừa ra nhau).

* Thực hiện đỡ đẻ heo

– Rửa sạch phần sau heo nái, lau khô.

– Sát trùng tay người đỡ đẻ bằng cách rửa sạch tay bằng xà phòng, sát trùng tay bằng cồn, mang bao tay (vô trùng).

– Khi heo nái đẻ, có thể đầu heo con ra trước hoặc 2 chân sau ra trước.

– Heo con tự làm rách màng nhau và lọt ra ngoài, ta đón lấy thai. Trường hợp heo con sanh bọc (hình bên), ta cần nhanh chóng xé màng nhau để heo con khỏi bị ngạt.

– Nắm chặt cuống rốn để tránh xuất huyết sau khi đứt rời với cuống nhau còn trong bộ phận sinh dục nái

– Lấy khăn sạch và mềm để móc hết những chất nhầy trong mũi và miệng ra, giúp heo hô hấp dễ dàng, tiếp theo lau toàn thân rồi đến 4 chân

– Rắc bột Mistral giữ ấm lên khắp thân heo con.

Nếu heo con bị ngạt phải làm hô hấp nhân tạo bằng cách:

+ Dùng hai ngón tay xoa mạnh từ trên xuống dưới dọc theo xương sống phía hai bên phổi để kích thích hô hấp hoặc để heo con nằm ngửa đưa hai chân trước của heo lên xuống nhịp nhàng.

+ Có thể dùng thuốc trợ tim Camphora tiêm 1-2ml/con.

+ Nếu nặng hơn thì ngâm mình heo con vào nước ấm (30 – 350C) trong 30 – 60 giây rồi đem ra hô hấp nhân tạo tiếp, heo con có thể phục hồi nhanh hơn.

– Dùng chỉ nylon cột rốn cách thành bụng khoảng 4cm

– Dùng kéo đã được sát trùng cắt cách mối cột 1cm, sát trùng bằng bông y tế nhúng cồn iốt 2% hay xanh methylen sát trùng chỗ cắt, mỗi ngày bôi rốn 2 lần cho đến khô. Hiện nay, một số trại người ta không cột và cắt rốn, dùng Mistral rắt lên để tự khô và rụng (chỉ cột rốn khi có chảy máu nhiều).

* Cắt đuôi

– Để chống nhiễm trùng và viêm khớp nên dùng kiềm nhiệt để cắt đuôi.

– Chú ý không nên cắt quá sát vào khấu đuôi của heo con.

* Úm heo

Sau khi cắt đuôi đặt heo con vào thùng hay chuồng úm đã lót sẵn rơm, lá chuối khô hoặc bao bố và đèn úm đã được bật.

Giữ ấm cho heo con từ 31-33oC trong mấy ngày đầu sau khi mới được sinh ra vì trung tâm điều chỉnh nhiệt ở heo con phát triển chưa hoàn chỉnh. Vì vậy mỗi một biến động nhiệt độ ngoài nhiệt độ thích hợp đều ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe heo con. Biên độ dao động nhiệt độ đối với heo con trong thời kỳ theo mẹ là từ 21- 350C, vậy để nhiệt độ trong khu vực chuồng nái đẻ vừa thích hợp cho heo mẹ, vừa thích hợp cho heo con là một vấn đề không dễ. Để có được nhiệt độ thích hợp cho heo con trong điều kiện heo mẹ không phải chịu nhiệt độ cao thì nhất thiết phải có bóng đèn để sưởi ấm heo con, đặc biệt vào những mùa đông, mùa thu, mưa bão kéo dài và những ngày đầu sau khi heo con mới sinh của tất cả các mùa trong năm.

Cần lưu ý độ cao thích hợp của bóng đèn. Độ cao bóng đèn cách mặt sàn chuồng khoảng 50-60 cm là thích hợp, không để thấp hoặc quá cao, đặc biệt cần nhận biết:

– Nếu để bóng đèn quá thấp heo con bị nóng, heo sẽ tản dạt ra xung quanh, mỗi con nằm riêng một nơi khắp ô chuồng

– Trong trường hợp ngược lại khi bóng đèn để ở quá cao hoặc nhiệt độ ô chuồng lạnh không đáp ứng được nhiệt độ thích hợp thì heo con nằm chồng chất lên nhau và run rẩy.

– Heo nằm con nọ kề cạnh con kia là nhiệt độ thích hợp.

Sự nhạy cảm về nhiệt độ không đủ ấm đối với heo con vào những ngày đầu sau khi sinh ra (1-7 ngày) đặc biệt vào những ngày lạnh, mùa đông thường làm cho heo con bị viêm phổi, tiêu chảy và tỷ lệ chết rất cao.

Dưới đây là khuyến cáo về nhiệt độ thích hợp cho heo con trong thời kỳ theo mẹ. Heo con từ 1 – 15 ngày tuổi cần được giữ ấm. Thời gian này tuyệt đối khôngtắm cho heo mẹ và heo con, hàng ngày chỉ chải khô. Giữ chuồng sạch sẽ khô ráo (cào phân thường xuyên, không rửa chuồng ở giai đoạn này).

2.2.3. Chăm sóc heo nái sau khi sanh

* Theo dõi heo mẹ sau khi đẻ xong

– Theo dõi số lượng nhau ra bằng cách gom nhau lại bỏ vào xô có nắp đậy, đếm số cuống rốn phải bằng số con đẻ ra.

– Dùng nước muối sinh lý 0,9%, thuốc tím 0,1% lau rửa mép âm môn, rửa bầu vú bằng nước xà phòng ấm trước khi cho heo con bú.

– Theo dõi tình trạng sức khỏe heo mẹ sau khi đẻ; màu sắc, lượng và mùi dịch hậu sản; kiểm tra thân nhiệt heo mẹ ngày 2 lần (sáng, chiều) liên tục trong 3 ngày đầu để can thiệp kịp thời, tránh trường hợp heo mẹ bị sốt gây mất sữa, nếu sốt cao phải chích hạ sốt và tùy nguyên nhân cụ thể mà can thiệp.

– Có thể cho heo mẹ uống nước sạch có pha thêm muối, ngày đầu sau sanh thường cho ăn cháo, hoặc cho ăn thức ăn hỗn hợp với số lượng ít (tránh viêm vú), sau đó cho ăn tự do.

3. Heo nái nuôi con

3.1. Chăm sóc nuôi dưỡng heo nái nuôi con

– Vận động: sau khi đẻ 5 – 7 ngày nên cho heo nái vận động 30 phút/ngày. Chú ý bảo vệ bầu vú cho heo mẹ, nếu bầu vú quá sệ chỉ cho vận động trong sân chơi. Heo nuôi công nghiệp không có điều kiện cho vận động nên cần cung cấp đủ dinh dưỡng, khoáng và vitamin.

– Nuôi dưỡng heo nái nuôi con không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho duy trì cơ thể mà một phần dinh dưỡng rất quan trọng sẽ được dùng để phục vụ cho nhu cầu tiết sữa. Do cơ thể heo mẹ rất ưu tiên cho việc tiết sữa cho nên nếu không cung cấp đủ chất dinh dưỡng, heo mẹ sẽ phải huy động chất dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể để tiết sữa dẫn đến heo nái bị hao mònnhiều và sẽ ảnh hưởng đến lần sinh sản sau.

Trong giai đoạn nuôi con thường heo nái được cho ăn tự do với hàm lượng protein thô trong thức ăn là 14% và năng lượng trao đổi là 3000Kcal/kg (heo nội). Heo ngoại ăn thức ăn có hàm lượng protein thô là 15 – 16% và năng lượng trao đổi là 3000Kcal/kg. Khẩu phần thức ăn phải đảm bảo đủ khoáng và vitamin, nếu thiếu canxi, có thể gây hiện tượng bại liệt. Dựa vào tiêu chuẩn ăn có thể phối trộn các thực liệu thành khẩu phần ăn hợp lý cho heo nái.

Heo nái trong thời gian nuôi con cần tạo môi trường ngoại cảnh tốt, chuồng ấm, thoáng, lưu thông không khí tốt, không có gió lùa, tránh gây stress cho đàn heo con, giữ yên tĩnh khi heo mẹ cho con bú.

3.2. Vệ sinh – Phòng bệnh heo nái nuôi con

Heo nái nuôi con phải sạch sẽ, được vệ sinh thường xuyên, đảm bảo thoáng, sạch khô và ấm cho heo con.

Heo nái trong thời gian nuôi con không nên tắm để hạn chế ẩm độ chuồng nuôi, tuy nhiên có thể chải cho heo mẹ.

Việc sử dụng chuồng lồng cho heo, có hệ thống làm mát và thông gió tạo điều kiện rất thích hợp để chăn nuôi heo nái năng suất cao.

Be the first to comment

Gửi phản hồi