Bệnh dịch tả lợn, Bệnh cúm ở lợn – Cách Phòng và trị bệnh

Trong tình hình hiện nay, sau đợt dịch cúm gia cầm, lợn là đối tượng chăn nuôi có hiệu quả và khá bền vững. Theo đó trình độ nhận thức về công tác thú y cũng được nâng cao, người chăn nuôi đã mạnh dạn áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất, đặt biệt là các biện pháp an toàn sinh học và quy trình tiêm chủng Vaccine. Tuy nhiên, bệnh trên lợn vẫn thường xảy ra, trong đó bệnh dịch tả lợn gây nhiều tổn thất đáng kể cho người chăn nuôi.
Bệnh dịch tả lợn

Nguyên nhân

Bệnh gây ra do một loại virus có sức đề kháng cao, tồn tại lâu ở ngoại cảnh, bị tiêu diệt bởi sút (NaOH), vôi (CaOH) 5%. Ở nhiệt độ cao virus bị tiêu diệt nhanh. Virus xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, qua niêm mạc, qua vết thương ở da và một phần qua hệ thống hô hấp.

Triệu chứng bệnh tích

Sau thời gian nung bệnh từ 3-7 ngày bệnh xuất hiện 3 thể:

– Thể quá cấp tính: Bệnh phát ra nhanh, con vật ủ rũ, bỏ ăn, sốt cao 41-420C, con vật dẫy dụa rồi chết. Diễn biến trong vòng 1-2 ngày, tỷ lệ chết cao.

– Thể cấp tính: Lợn ủ rũ, kém ăn, rồi bỏ ăn, sốt cao 41-420C kéo dài đến lúc gần chết, mắt viêm đỏ có ghèn, chảy nước mũi, miệng có loét phủ nhựa vàng ở lợi, chân răng, hầu…lợn thường bị nôn mửa, thở khó, nhịp thở rối loạn. Lúc đầu táo bón sau đó tiêu chảy phân bết vào mông, đuôi mùi rất thối khắm có khi có máu tươi. Trên da có nhiều điểm xuất huyết lấm tấm ở đầu, bụng, sau tai, 4 chân…Vào cuối kỳ bệnh, lợn bị liệt 2 chân sau đi loạng choạng hoặc không đi được. Nếu ghép với các bệnh khác thì các triệu chứng trên trầm trọng hơn.

– Thể mãn tính:  Lợn tiêu chảy gầy yếu, lợn chết do kiệt sức, lợn có thể khỏi bệnh nhưng vẫn mang virus. Mổ khám bệnh tích ở thể cấp tính thấy có sự bại huyết , xuất huyết nặng ở các cơ quan nội tạng, có loét ở đường tiêu hóa, dạ dày bị tụ huyết, xuất huyết thường nặng ở đường cong lớn, ở ruột già có xuất huyết có những vết loét hình cúc áo, bờ vết loét cao phủ nhựa vàng. Phổi bị xuất huyết và tụ huyết. Tim bị xuất huyết ở mỡ vành tim, ở ngoại tâm mạc, gan bị tụ huyết xuất huyết, túi mật có những điểm xuất huyết. Lách có hiện tượng nhồi huyết ở rìa làm cho lách có hình răng cưa, thận có nhiều điểm xuất huyết lấm tấm như đầu ghim ở vỏ thận và tủy thận, niêm mạc bàng quang bị tụ huyết, xuất huyết.

Trong trường hợp bệnh mãn tính thường thấy ở ruột, phổi. Ruột có những vết loét lõm sâu, bờ cao phủ nhựa vàng, phổi có thể bị viêm dính vào lồng ngực.

Trên thực tế hiện nay bệnh thường xảy ra có ghép với một số bệnh khác nên triệu chứng và bệnh tích có thay đổi tùy theo ghép với bệnh nào.

Phòng trị bệnh

Không có thuốc đặc trị

Phải tiêm phòng Vaccine đúng lịch trình, khi lợn mua về phải nhốt riêng ít nhất 3 tuần. Nếu không có bệnh, mới cho nhập đàn, định kỳ vệ sinh, sát trùng chuồng trại, khi có dịch xảy ra lợn bệnh phải được xử lý.

Bệnh cúm ở lợn

 

Cúm ở lợn là bệnh phát sinh do lợn nhiễm virus cúm, bệnh phân bố toàn cầu.

Triệu chứng: Lợn đột ngột phát bệnh hô hấp, sau đó sốt, bỏ ăn, lười vận động, chảy nước mắt, nước mũi. Thường xuyên hắt hơi và thở không đều. Phần lớn lợn khỏi bệnh trong vòng 1 tuần, tuy nhiên một số con có thể chết nếu sức đề kháng yếu.

Cách lây lan: Virus cúm lợn có nhiều ở nước mắt, nước mũi của lợn mắc bệnh; từ đây virus có thể lây lan từ lợn ốm sang lợn khoẻ qua tiếp xúc, vận chuyển hoặc có thể qua thức ăn, nước uống, vật dụng chuồng nuôi.

Điều trị: Không có thuốc điều trị đặc hiệu. Hầu hết lợn mắc bệnh tự khỏi, nên việc cần thiết phải làm để hạn chế bệnh là chăn nuôi tốt, giữ lợn mắc bệnh thoải mái và giảm stress. Có thể điều trị bằng kháng sinh với những con nặng để giảm nguy cơ nhiễm trùng kế phát.

Phòng chống: Vì bệnh lây do tiếp xúc trực tiếp giữa con khoẻ với con bệnh nên phải tách riêng những con ốm. Tuy nhiên, một khi có bệnh xảy ra trong đàn, khó có thể ngăn được bệnh lây lan.

Vì bệnh có thể truyền sang người, do đó phải giảm tối thiểu sự tiếp xúc giữa lợn mắc bệnh với người, ngăn chặn việc bán lợn cúm ra thị trường.

Be the first to comment

Gửi phản hồi